đặt vấn đề thiết kế với lũ cực hạn, mà chỉ nên thiết kế với lũ lịch sử hoặc tần suất thiết kế; bởi vì nếu thiết kế với lũ cực hạn thì chi phí xây dựng sẽ rất lớn. - Đối với những công trình đã thiết kế, cần nâng cấp để có khả năng tháo lũ lịch sử. Đập tràn xả lũ có thể bị hư hỏng lớn nhưng không bị vỡ và sau lũ có điều kiện để khôi phục. 12 - Đối với những công trình thiết kế mới, phải được thiết kế với lũ lịch sử thay vì theo tần suất đơn thuần như trước đây.
Công trình được đảm bảo an toàn khi xảy ra lũ lịch sử. Công trình đập tràn loại nhỏ. Lũ kiểm tra đối với những công trình nhỏ là lũ theo tần suất thiết kế tùy thuộc vào cấp công trình theo quy phạm hiện hành. - Đối với những đập đã được xây dựng, đập nhỏ hiện nay một mặt có cao trình đỉnh thấp hơn cao trình thiết kế từ 0,5-:-1,0m với số lượng lớn 20%, mặt khác lũ kiểm tra theo thiết kế thường là nhỏ hơn lũ thực tế.
Vì thế cần phải nâng cao đập để chống tràn qua đập khi gặp lũ kiểm tra; đảm bảo cho đập không bị vỡ nhưng có thể bị sự cố lớn. - Đối với những công trình thiết kế mới, phải được thiết kế theo tần suất lũ kiểm tra, đập không bị vỡ nhưng có thể bị hư hỏng nhỏ. Tổng quan về ảnh hưởng nền địa chất đập tràn đến sự ổn định của công trình trong quá trình khai thác 1. Ảnh hưởng của địa chất đập tràn đến sự ổn định của công trình Một trong những nguyên nhân chính gây ra hư hỏng đập tràn chính là địa chất nền tràn.
Sự cố công trình thuỷ lợi do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó khảo sát địa hình, địa chất là nguyên nhân phổ biến nhất và nguy hiểm nhất cho công trình đầu mối thuỷ lợi. Hậu quả do sự cố gây ra thường là nghiêm trọng, việc xử lý rất tốn kém, gây ra tổn thất lớn về tính mạng, tài sản của nhân dân và tài sản của quốc gia, có ảnh hưởng xấu về kinh tế, và đối với những sự cố lớn và nghiêm trọng còn ảnh hưởng xấu đến tình hình xã hội. Đánh giá địa chất nền công trình không đầy đủ và chính xác, trong quá trình thi công, quản lý và khai thác công trình sẽ xảy ra sự cố. Sự cố công trình lớn và nghiêm trọng thường xảy ra đột ngột, trong một thời gian ngắn, không kịp ứng phó.
Ảnh hưởng của địa chất đập tràn đến sự ổn định của công trình. Sự cố địa tầng ở đập tràn xả lũ hồ chứa Tả Trạch - Thừa Thiên Huế Công trình hồ chứa nước Tả Trạch được Chính phủ phê duyệt vào năm 2001 với tổng mức đầu tư 1. Tuy nhiên, mãi đến tháng 11 năm 2005, công trình mới được khởi công xây dựng và đến thời điểm quý I/2008, tổng dự toán của công trình này là Hình 1-1: Bản đồ vị trí hồ Tả Trạch. B 0 Công trình có nhiệm vụ: - Chống lũ tiểu mãn, lũ sớm; giảm lũ chính vụ cho hệ thống sông Hương.
- Cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp với lưu lượng Q = 2,0 m3/s. P P - Tạo nguồn nước tưới ổn định cho 34.782 ha đất canh tác thuộc vùng đồng bằng sông Hương. - Bổ sung nguồn nước ngọt cho hạ lưu sông Hương để đẩy mặn, cải thiện môi trường vùng đầm phá, phục vụ nuôi trồng thủy sản với lưu lượng Q=25,0 m3/s.P P - Phát điện với công suất lắp máy N = 19,5 MW. Tràn xả lũ của hồ chứa Tả Trạch do Tổng Cty cổ phần Tư vấn thủy lợi Việt Nam thiết kế, kết quả thăm dò, khảo sát địa tầng trước khi xây dựng cho kết quả: Đất - đá - đá cứng (phần đá cứng ở độ sâu 10m).
Tuy nhiên khi thi Hình 1-2: Mở móng tràn Tả Trạch. B 1 công, đào xuống lại cho kết quả ngược lại là: Đất - đá - đất, do bị một vệt đứt gãy địa tầng, và càng đào sâu càng gặp đất, thay vì đá cứng hơn như thông thường. 14 Biện pháp sử lý sự cố tràn xả lũ Tả Trạch được Tổng Công ty cổ phần Tư vấn thủy lợi Việt Nam thiết kế bằng biện pháp khoan cọc nhồi. Sự cố vỡ đập Z20 - Hà Tĩnh Hồ chứa nước Z20 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh phê duyệt năm 2008.
Là một hồ chứa nhỏ, dung tích hồ chứa 0,3 triệu khối nước. Tuy nhiên quá trình khảo sát đã đánh giá địa chất nền công trình không đúng nên thiết kế đã không xử lý triệt để lớp địa chất kém bằng chân khay nên khi tích nước được một thời gian thì đến ngày 16 tháng 9 năm 2009 đã bị vỡ đập. Hình 1-3: Hình ảnh vỡ đập Z20. Hình 1-4: Hình ảnh vỡ đập Z20 ảnh B 2 B 3 hưởng đến đường sắt.
Tuy là hồ chứa loại nhỏ khi vỡ đã gây thiện hại rất lớn cho nhân dân và đặc biệt là ảnh hưởng nghiêm trọng đến tuyến đường sắt Bắc - Nam. Một số giải pháp xử lý để gia tăng ổn định và khả năng chịu tải của nền Xử lý nền đất yếu nhằm mục đích làm tăng sức chịu tải của nền đất, cải thiện một số tính chất cơ lý của nền đất yếu như: Giảm hệ số rỗng, giảm tính nén lún, tăng độ chặt, tăng trị số modun biến dạng, tăng cường độ chống cắt của đất, giảm tính thấm của đất. Các biện pháp xử lý nền thông thường: - Các biện pháp cơ học: Bao gồm các phương pháp làm chặt bằng đầm, đầm chấn động, phương pháp làm chặt bằng giếng cát, các loại cọc (cọc bê tông, cọc cát, 15 cọc đất, cọc vôi.), phương pháp thay đất, phương pháp nén trước, phương pháp vải địa kỹ thuật, phương pháp đệm cát. - Các biện pháp vật lý: Gồm các phương pháp hạ mực nước ngầm, phương pháp dùng giếng cát, phương pháp bấc thấm, điện thấm.
- Các biện pháp hóa học: Gồm các phương pháp keo kết đất bằng xi măng, vữa xi măng, phương pháp Silicat hóa, phương pháp điện hóa. Phương pháp xử lý nền đất yếu bằng cọc cát Khác với các loại cọc cứng khác (bê tông, bê tông cốt thép, cọc gỗ, cọc tre.) là một bộ phận của kết cấu móng, làm nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng xuống đất nền, mạng lưới cọc cát làm nhiệm vụ gia cố nền đất yếu nên còn gọi là nền cọc cát. Việc sử dụng cọc cát để gia cố nền có những ưu điểm nổi bật sau: Cọc cát làm nhiệm vụ như giếng cát, giúp nước lỗ rỗng thoát ra nhanh, làm tăng nhanh quá trình cố kết và độ lún ổn định diễn ra nhanh hơn; Nền đất được ép chặt do ống thép tạo lỗ, sau đó lèn chặt đất vào lỗ làm cho đất được nén chặt thêm, nước trong đất bị ép thoát vào cọc cát, do vậy làm tăng khả năng chịu lực cho nền đất sau khi xử lý; Cọc cát thi công đơn giản, vật liệu rẻ tiền (cát) nên giá thành rẻ hơn so với dùng các loại vật liệu khác. Cọc cát thường được dùng để gia cố nền đất yếu có chiều dày > 3m.
Phương pháp xử lý nền bằng cọc vôi và cọc đất - ximăng Cọc vôi thường được dùng để xử lý, nén chặt các lớp đất yếu như: Than bùn, bùn, sét và sét pha ở trạng thái dẻo nhão. Việc sử dụng cọc vôi có những tác dụng sau: - Sau khi cọc vôi được đầm chặt, đường kính cọc vôi sẽ tăng lên 20% làm cho đất xung quanh nén chặt lại. - Khi vôi được tôi trong lỗ khoan thì nó toả ra một nhiệt lượng lớn làm cho nước lỗ rỗng bốc hơi làm giảm độ ẩm và tăng nhanh quá trình nén chặt. - Sau khi xử lý bằng cọc vôi nền đất được cải thiện đáng kể: Độ ẩm của đất giảm 5 - 8%; Lực dính tăng lên khoảng 1,5 - 3lần.
Việc chế tạo cọc đất - ximăng cũng giống như đối với cọc đất - vôi, ở đây xilô chứa ximăng và phun vào đất với tỷ lệ định trước. Lưu ý sàng ximăng trước khi đổ 16 vào xilô để đảm bảo ximăng không bị vón cục và các hạt ximăng có kích thước đều < 0,2mm, để không bị tắc ống phun. Hàm lượng ximăng có thể từ 7 - 15% và kết quả cho thấy gia cố đất bằng ximăng tốt hơn vôi và đất bùn gốc cát thì hiệu quả cao hơn đất bùn gốc sét. Qua kết quả thí nghiệm xuyên cho thấy sức kháng xuyên của đất nền tăng lên từ 4 - 5 lần so với khi chưa gia cố.
Ở nước ta đã sử dụng loại cọc đất - ximăng này để xử lý gia cố một số công trình và hiện nay triển vọng sử dụng loại cọc đất - ximăng này để gia cố nền là rất tốt. Phương pháp xử lý nền bằng đệm cát Lớp đệm cát sử dụng hiệu quả cho các lớp đất yếu ở trạng thái bão hoà nước (sét nhão, sét pha nhão, cát pha, bùn, than bùn…) và chiều dày các lớp đất yếu nhỏ hơn 3m. Biện pháp tiến hành: Đào bỏ một phần hoặc toàn bộ lớp đất yếu (trường hợp lớp đất yếu có chiều dày bé) và thay vào đó bằng cát hạt trung, hạt thô đầm chặt. Việc thay thế lớp đất yếu bằng tầng đệm cát có những tác dụng chủ yếu sau: - Lớp đệm cát thay thế lớp đất yếu nằm trực tiếp dưới đáy móng, đệm cát đóng vai trò như một lớp chịu tải, tiếp thu tải trọng công trình và truyền tải trọng đó các lớp đất yếu bên dưới.
- Giảm được độ lún và chênh lệch lún của công trình vì có sự phân bố lại ứng suất do tải trọng ngoài gây ra trong nền đất dưới tầng đệm cát. - Giảm được chiều sâu chôn móng nên giảm được khối lượng vật liệu làm móng. - Giảm được áp lực công trình truyền xuống đến trị số mà nền đất yếu có thể tiếp nhận được. - Làm tăng khả năng ổn định của công trình, kể cả khi có tải trọng ngang tác dụng, vì cát được nén chặt làm tăng lực ma sát và sức chống trượt.
Tăng nhanh quá trình cố kết của đất nền, do vậy làm tăng nhanh khả năng chịu tải của nền và tăng nhanh thời gian ổn định về lún cho công trình. 17 - Về mặt thi công đơn giản, không đòi hỏi thiết bị phức tạp nên được sử dụng tương đối rộng rãi. Phạm vi áp dụng tốt nhất khi lớp đất yếu có chiều dày bé hơn 3m. Không nên sử dụng phương pháp này khi nền đất có mực nước ngầm cao và nước có áp vì sẽ tốn kém về việc hạ mực nước ngầm và đệm cát sẽ kém ổn định.