ĐẶT VẤN ĐỀ Địa lan là những loài đƣợc biết đến nhƣ một loài hoa quý phái, hoa của bậc vua chúa vƣơng giả. Địa lan có vẻ đẹp thanh cao và chứa đựng nhiều ý nghĩa. Cùng với sự phát triển của ngành trồng Lan trong thời gian qua, loài hoa quý này không chỉ làm đẹp hơn hình ảnh của Việt Nam trong con mắt của du khách đến với đất nƣớc xứ sở nhiệt đới này mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm cho những loài địa lan bản địa quý hiếm bị khai thác cạn kiệt, có nguy cơ tuyệt chủng.
Do đó cần thiết phải điều tra sự phân bố để biết loài đặc trƣng cho từng vùng sinh thái và đánh giá khả năng thích ứng của một số dòng, giống địa lan quý nhằm lƣu giữ, bảo tồn và phát triển thông qua việc khai thác hợp lý. Xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang là một trong năm xã thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, đƣợc thành lập theo quyết định số 82/2002/QĐ-UBND, ngày 24/5/2002 của tỉnh Bắc Giang, với tổng diện tích tự nhiên là 199 km2. Đây là khu vực đƣợc đặc trƣng bởi hệ sinh thái rừng kín lá rộng thƣờng xanh nhiệt đới và á nhiệt đới, ngoài ra do nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai, khí hậu thuận lợi cho các loại động thực vật rừng ở đây sinh trƣởng, phát triển nên quần thể sinh vật rừng ở đây rất phong phú, đa dạng, trong đó có các loài địa lan. Tuy nhiên, hiện nay khu vực đã và đang phần nào chịu những tác động của con ngƣời nên các loài Lan trong địa phƣơng có nguy cơ suy giảm về số lƣợng loài và mật độ quần thể, vì vậy cần có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng cũng nhƣ cộng đồng ngƣời dân địa phƣơng nhằm duy trì và phát triển bền vững nhóm loài này.
Do vậy, để góp phần bảo tồn tính đa dạng sinh học cho khu vực xã An Lạc nói chung và đa dạng các loài địa lan nói riêng, là hết sức cần thiết. Do đó tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng và phân bố của các loài địa lan tại xã An Lạc, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn” 1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan 1. Phân loại thực vật Phân loại thực vật là một phận của thực vật học chuyên nghiên cứu về việc sắp xếp các thực vật có đặc điểm giống nhau thành từng nhóm theo một trật tự tự nhiên.
Khái niệm đa dạng sinh học Đa dạng sinh học là toàn bộ sự phong phú của cơ thể sống và các hợp sinh thái mà chúng ta là thành viên, bao gồm sự đa dạng bên trong giữa các loài và sự đa dạng của hệ sinh thái. Cơ sở khoa học Phân loại Lan bao gồm ba khía cạnh. Trƣớc hết là đặt tên cho Lan, rồi xác định chúng ở các bậc phân loại và trên thực tế ba phần này đều đƣa đến 1 mục đích rõ tên của một cây Lan và vị trí tƣơng quan họ hàng giữa nó với các cây khác. Họ Lan ở trong lớp Đơn tử Điệp (1 lá mầm) thuộc ngành Hiển hoa bí tử (có hạt hoa ở phía trái).
Họ Lan đƣợc chia thành nhiều tông (tribus) trong tông chia thành nhiều giống (genus) trong mỗi giống có nhiều đến nhiều loài (speeies)… ta gọi đó là thứ bậc phân loại. Mỗi đơn vị ấy đều có nguyên tắc đặt tên bắt buộc. Họ : Đƣợc lấy trong số giống tiêu biểu là Orchis thêm đuôi aceae. VD: Orchidaceae Họ phụ: Có vần cuối là oideae.
VD: Orchidoideae Tông: có vần cuối là eae VD: Epidendreae Tông phụ có vần cuối là onae. VD: Dendrobinae Giống: Lấy tên của loài tiêu biểu thƣờng là loài tìm ra đầu tiên của giống đó. VD: Dendrobium: Loài gồm hai chữ Latinh; chữ đầu là danh từ chỉ giống, chữ sau là tính thì chỉ đặc điểm của loài đó. 2 VD: Dendrobium dnaconis.
Thứ: khi các loài cây có đặc điểm khác biệt thứ yếu (sai khác về màu sắc hoa) thì đăng sau tên của loài còn kèm theo chữ var var (variatas), dựa vào hình thái cấu trúc thân cây, hoa Lan phân thành 2 nhóm (theo Pfitzer). - Ngoài ra còn một nhóm trung gian nằm giữa 2 nhóm trên nhƣng gồm rất ít giống nhƣ các giống: Centropetatum, Phachyphlluu, Dicheae… + Cây đa thân: Gồm các giống Cymbidium, Dendrobium, Cattleya… Cây đa thân gồm rất nhiều giả hành, mỗi giả hành có một số lá bao che và mang rễ ở đáy. Đáy lá to ra tạo thành bẹ bao quanh giả hành, ở nách lá mỗi bẹ lá có thể có chồi mà mỗi chồi có thể phát triển thành cành mang hoa (phát hoa) hay tạo cơ quan sinh dƣỡng mới (giả hành mới). Sự phát triển của giả hành có giới hạn sau một thời gian đạt kích thƣớc đầy đủ sẽ không tạo ra lá mới nữa, các chồi ở nách lá sẽ tạo ra các chồi hoa và phát triển thành nhiều phát hoa.
Các lá già sẽ rụng đi các giả hành già sau một thời gian sử dụng hết dinh dƣỡng thì chết, nhƣ thế mỗi giả hành khi khởi đầu là một chồi ở nách lá. + Cây đơn thân: Gồm các giống: Vanda, Phalaenopsis, Aerides,… thân luôn mọc cao về phía đỉnh sự mọc dài của đỉnh là không giới hạn nên thân chỉ có một thân phát triển vô hạn theo chiều thẳng đứng. Sự phát triển này chỉ ngừng khi đỉnh ngọn bị tổn thƣơng, lúc đó chồi bên nách lá sẽ xé rách bẹ lá để mọc dài ra nhánh. Các nhánh cũng phát triển vô hạn về phía đỉnh có các cây Lan cao và có cách lóng dài, lá mọc xa nhau nhƣ (Vanda) có nhƣng cây lá khít nhau nên thân ngắn nhƣ (Hồ Điệp)… Dù các lá xa nhau là cho thân dài hay lá xếp sít hầu nhƣ không thấy đƣợc thân, các cây Lan đơn thân cũng phát triển vô hạn về phái đỉnh ngọn theo chiều thẳng đứng cho nên các phát hoa bao giờ cũng xuất hiện ở bên thân chứ không bao giờ xuất hiện ở đỉnh ngọn.
- Phong lan đƣợc chia làm 3 dạng sống: + Sống bì sinh lấy cây khác làm giá thể gọi là phong lan; 3 + Sống trên thảm mục gọi là địa lan; + Sống trên đá gọi là thạch lan. Những đặc điểm sinh học của Lan 1. Cơ quan sinh dưỡng Họ Lan tên khoa học là Orchidaceae là một họ thực vật có hoa thuộc bộ Măng tây, lớp thực vật một lá mầm. Cơ quan sinh dƣỡng của hoa Lan rất phức tạp, đa dạng khiến ta có thể nhầm lẫn chúng với các loại cỏ khác.
Tổ chức và cơ quan sinh dƣỡng của Lan, thay đổi theo phƣơng thức mà nó sống và phát triển. * Rễ: Lan là họ sống phụ (bì sinh) bám treo lơ lửng trên các cây thân gỗ khác. Các dạng thân gỗ nạc dài, ngắn mập hay mảnh mai đƣa cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành các bụi dày. Rễ làm nhiệm vụ hấp thu chất dinh dƣỡng, chúng đƣợc bao bởi lớp mô hút dày, ẩm bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí, do đó nó ánh lên màu xám bạc.
Với lớp mô xốp đó rễ có thể hấp thu đƣợc nƣớc mƣa chảy dài dọc trên vỏ cây, lấy nƣớc lơ lửng trong không khí. Ở các loài Lan sống phụ sinh có nhiều đoạn phình lớn thành củ giả (giả hành). Đó là bộ phận dự trữ nƣớc và chất dinh dƣỡng để nuôi cây trong điều kiện sống khô hạn khi sống bám trên cao. Củ giả rất đa dạng: Hình cầu hoặc hình thuôn dài xếp sát nhau hoặc rải rác đều đặn hoặc hình trụ xếp chồng chất lên nhau để tạo thành một thân giả.
Cấu tạo củ giả: Gồm nhiều mô mềm chƣa đầy dịch nhầy, phía ngoài là lớp biểu bì, với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ, tránh sự mất nƣớc do mặt trời hun nóng. Đa số củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá nó làm nhiệm vụ quang hợp. * Lá - Hầu hết các loài lhong lan là cây tự dƣỡng, nó phát triển đầy đủ hệ thống lá. 4 - Hình dạng của lá thay đổi rất nhiều từ lá mọng nƣớc đến loại lá phiến mỏng.
- Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo gân vòng cung, hay chỉ gấp lại theo gân hình chữ V. Màu sắc lá thƣờng xanh bóng nhƣng có trƣờng hợp 2 mặt lá có màu sắc khác nhau. Thƣờng mặt dƣới có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lại khảm nhiều màu sặc sỡ.2 Đặc điểm cơ quan sinh sản của Lan * Hoa: Cụm hoa chùm thƣờng là nhiều hoa, đôi khi ít hoa hoặc đơn độc. Cụm hoa dài thƣờng rủ thõng xuống, nhều loài có cụm hoa đẹp, cụm có giá trị làm cảnh.
Lƣỡng tính hai bên. Màu sắc hoa đa dạng, sặc sỡ. Hoa đa số các loài có hƣơng thơm. Bao hoa chia hai vòng.
Vòng ngoài gồm một lá đài giữa và hai lá đài bên. Vòng trong gồm có hai cánh hoa và một cánh môi. * Quả Lan: Thuộc loại quả nang, nở theo 3-6 đƣờng nứt dọc. Quả có dạng cải dài hình trụ ngắn phình ở giữa, khi chín quả nở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và gốc.
* Hạt: Hạt Lan rất nhiều, hạt li ti. Hạt chỉ cấu tạo bởi một lớp chƣa phân hóa, trên một mạng lƣới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí. Hạt trƣởng thành sau 2 - 18 tháng. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Lan đƣợc khám phá đầu tiên bởi ngƣời Hy Lạp.
Cha đẻ của ngành Thảo mộc học. Theo Phrastus nhà Thực vật học đã nghiên cứu và đƣa ra các bài thuốc đƣợc bào chế từ bộ phận hoa Lan thƣờng là rễ cây đã đƣợc ghi chép trong các sách về thảo dƣợc. Salep (bột của Lan) là một loại nƣớc uống giải khát. Năm 1731, một nhà Thảo mộc học ngƣời Anh nhận một mẩu giò Lan khô từ Providence, Bahama.
Ông chăm sóc đặc biệt khi trồng thử, chỉ ngay năm sau đó, Lan trổ hoa màu hồng nhạt xinh tƣơi và diễm lệ. Đó là Lan Bletila purpura. Điều đó đã đánh dấu cành hoa Lan nở đầu tiên trên đất Anh. Các nhà khoa học Âu –Mỹ mới bắt đầu nghiên cứu về Lan và tìm cách phân loại theo các tiêu chuẩn: Điều kiện tăng trƣởng, sự sinh sản và hình dáng, năm 1790 Joanis Lorureio đã nghiên cứu và xuất bản quyển “Thực vật chí Nam Bộ” (Flora Cochinchinesis) trong tập sách này Lorureio đã đặt ra một số Lan mới trong đó có 2 giống rất quan trọng là Aerdes và Thrixspermum.
Một số mẫu Lan của ông đƣợc lƣu trữ tại Viện bảo tàng Anh Quốc còn đa số đƣợc lƣu trữ tại Lisbon.