ĐẶT VẤN ĐỀ Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nƣớc có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002- Chiến lƣợc quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002-2010). Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu. của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái.
Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vƣợng của loài ngƣời và sự bền vững của thiên nhiên trên Trái đất. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi trƣờng sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dƣới loài đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tƣơng lai gần. Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nƣớc.
Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết nhƣ quan hệ giũa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH v. Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong tự nhiên của Việt Nam hiện nay tập trung ở 3 hệ sinh thái (HST) chính là: HST trên cạn ( HST rừng), HST đất ngập nƣớc và HST biển.Các hệ sinh thái của rừng Việt Nam rất đa dạng, mỗi hệ sinh thái rừng thực chất là một phức hệ rất phức tạp, đƣợc vận hành và chi phối bởi các quy luật nội vi và ngoại vi. Một số hệ sinh thái điển hình: rừng trên núi đá vôi, rừng rụng lá và nửa rụng lá, rừng thƣờng xanh núi thấp, núi trung bình, núi cao v. có giá trị đa dạng sinh học cao và có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam.
1 Hệ sinh thái núi đá vôi Việt Nam tập trung chủ yếu ở một số tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ, với diện tích 1.000 ha, đa dạng về động thực vật, thuận tiện cho việc nghiên cứu và học tập. Cao Bằng là một tỉnh vùng núi nằm ở Đông Bắc nƣớc ta. Đƣợc bao quanh bởi núi non hùng vĩ nên thực vật ở đây rất đa dạng và phong phú. Đi ngƣợc về hƣớng Bắc sẽ đến huyện Hà Quảng cách trung tâm thị xã Cao Bằng 54km theo đƣờng tỉnh lộ 203, tổng diện tích đất tự nhiên là 453,67 km2.Hà Quảng là huyện có khu di tích cách mạng Pác Bó, nơi in dấu nhiều điểm di tích gắn liền với quá trình sống, hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm 1941-1945 đang đƣợc giữ gìn và tôn tạo.Có khu tƣởng niệm Anh hùng Liệt sỹ Kim Đồng, khu di tích Nà Sác cũng đang đƣợc tôn tạo, nâng cấp, giữ gìn và phát huy và có cửa khẩu Sóc Giang.
Huyện có 18 đơn vị hành chính cấp xã và khu vực điều tra là một trong 18 xã của huyện. Xã Tổng Cọt có diện tích tự nhiên 3.100,11ha, dân cƣ thƣa thớt, sống rải rác, chia cắt bởi các dãy núi đá vôi, cách trung tâm huyện lỵ 27km về phía Đông. Là xã có địa hình đồi núi cao, độ chia cắt lớn nên đƣờng giao thông đi lại khó khăn nhất là mùa mƣa. Theo báo cáo tóm tắt quy hoạch sử dụng đất của xã thì tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 3100,11ha, trong đó đất nông nghiệp 516 ha (16,64%), đất lâm nghiệp là 1792,63 ha (chiếm 57,82%), đất chƣa sử dụng là 791,48ha ( chiếm 25,53).
Qua báo cáo trên ta thấy diện tích rừng trên núi đá vôi chiếm hơn 50% của khu vực, nguồn tài nguyên thực vật phong phú, có hệ núi đá cao, với những đặc điểm trên cho thấy khu vực xã không chỉ có giá trị về đa dạng sinh học, sinh thái và môi trƣờng mà còn có ý nghĩa về nghiên cứu, học tập. Hiện nay, vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm hệ thực vật tại đia phƣơng này. Để phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu nên tôi đƣợc giao nhiệm vụ “ Nghiên cứu tính đa dạng của thực vật thân gỗ tại xã Tổng Cọt, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng” nhằm nghiên cứu về thực vật thân gỗ tại địa 2 phƣơng thực tập và đề xuất đƣợc giải pháp bảo tồn và phát triển cho nguồn gen thực vật ở địa phƣơng. Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Nhận thức chung về đa dạng sinh học.
Thuật ngữ Đa dạng sinh học (Biological diversity) xuất hiện từ những năm 1980, nhằm nhấn mạnh sự cần thiết trong các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn tính đa dạng, phong phú của sự sống trên Trái đất. Thuật ngữ này hiện đang đƣợc sử dụng một cách rộng rãi nhất trên phạm vi toàn cầu trong nhiều lĩnh vực khoa học và văn hóa đời sống. Đa dạng sinh học (ĐDSH) có ý nghĩa rất rộng và có những nội dung còn đang đƣợc thảo luận. Trƣớc hết, đó là sự đa dạng và phong phú của sự sống trên Trái Đất.
Các loài cây, hoa trái, các loài côn trùng, vi khuẩn,rừng và các rạn san hô v.v… đều nằm trong khái niệm đa dạng sinh học. Ngoài ra, đa dạng sinh học lại là một lĩnh vực nghiên cứu trong đó bao gồm cả sự mô tả, đánh giá và giải thích nguồn gốc cũng nhƣ sự hình thành nó. Lịch sử khái niệm về đa dạng sinh học Nguồn gốc đa dạng của sự sống trên Trái đất không những là đề tài trung tâm của các ngành khoa học tự nhiên mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học khác.Các quan niệm về phân chia sự sống đã có từ thời cổ xƣa và vẫn còn tiếp bàn luận cho tới ngày nay. Thuật ngữ đa dạng sinh học lần xuất hiện đầu tiên trong hai bài viết của Lovejoy (1980), Norse và McManus (1980).
Lovejoy làm việc cho Qũy Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế tại Washington ( Hoa Kỳ) đã nhẫn mạnh trong báo cáo năm 1980 cho tổng thống Hoa Kỳ về các vấn đề môi trƣờng toàn cầu,năng lƣợng, dân số và kinh tế… Trong báo cáo cũng đã nhấn mạnh sự cấp thiết phải 3 có các nỗ lực quốc tế để bảo vệ môi trƣờng trên phạm vi toàn cầu, đánh giá diện tích rừng còn lại trên Trái đất, những kiến nghị và hậu quả của việc khai thác rừng quá mức hiện nay (làm thay đổi khí hậu toàn cầu và suy thoái ĐDSH) v.v… Lovejoy cho rằng đa dạng sinh học hay đa dạng của sự sống đƣớc xác định trƣớc hết bằng tổng sso các loài sinh vật đang tồn tại hiện nay. Norse và McManus, hai nhà sinh thái học của Hội đồng Nhà trắng về chất lƣợng môi trƣờng trong nhiệm kỳ của Tổng thống Cater, đã viết một chƣơng trong Báo cáo hàng năm (1980) của Uỷ ban về chất lƣợng môi trƣờng. Chƣơng này đề cập tới ĐDSH toàn cầu, và đƣa ra hai khái niệm có liên quan là đa dạng Gen (genetic diversity) và đa dạng sinh thái ( ecological diversity). Báo cáo còn đề cập tới lợi ích vật chất của ĐDSH, cơ sở tâm lý và triết học của công tác bảo tồn, các tác động của con ngƣời tới ĐDSH và các chiến lƣớc cũng nhƣ chính sách để bảo tồn ĐDSH.
Trên diễn đàn khoa học, thuật ngữ ĐDSH lần đầu tiên xuất hiện trong công trình của Wilson (1982). Sau đó những nội dung kiên quan tới ĐDSH về cả mặt khoa học và thực tiễn đã đƣợc thảo luận một cách rộng rãi trên phạm vi toàn cầu. Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã thúc đẩy ý tƣởng xây dựng một công ƣớc toàn cầu về ĐDSH.Năm 1987, chƣơng trình Môi trƣờng của Liên Hợp Quốc (UNEP) đã kêu gọi một sự hợp tác quốc tế nhằm bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học. Các cuộc họp trù bị của các tổ chức này đã thành lập ra Ủy Ban Hợp tác Liên Chính Phủ để chuẩn bị cho Công ƣớc đa dạng sinh học, vào tháng 05 năm 1992, bản thảo cuối cùng của công ƣớc Rio đã đƣợc chuẩn bị xong và đƣợc thông qua tại Nairobi (22/05/1992).
Công ƣớc đa dạng sinh học đã đƣợc 157 Chính Phủ ký kết ở Hội nghị Thƣợng đỉnh Riode Janeiro vào ngày 05/06/1992, có hiệu lực vào ngày 29/12/1993 và đến tháng 03/1998 đã có 172 nƣớc ký và 168 nƣớc phê chuẩn, trong đó có Việt Nam. Chiến lƣợc đa dạng sinh học toàn cầu đã đƣợc Viện Tài 4 nguyên Thế giới, IUCN và UNEP công bố năm 1992. Từ đó UNEP đã cổ vũ và hỗ trợ cho nhiều chƣơng trình nghiên cứu về đa dạng sinh học ở các nƣớc và nhiều cuộc họp đã đƣợc tổ chức ở khắp nơi trên thế giới để phat triển thêm khái niệm về đa dạng sinh học, tạo sự nhất trí cao và đấy mạnh các hoạt động có liên quan trên phạm vi toàn cầu. Định nghĩa về đa dạng sinh học Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học.
Định nghĩa do quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF) 1989 quan niệm: “đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vât, động vật và vi sinh vật, là những Gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”. Theo IUCN (1994) đã đƣa ra định nghĩa ĐDSH nhƣ sau: “Đa dạng sinh học là thuật ngữ để chỉ sự phong phú của sự sống trên trái đất của hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng và các hệ sinh thái mà chúng là thành viên. Từ đó, đa dạng sinh học được định nghĩa là sự đa dạng của các sinh vật từ tất cả các nguồn, trong đó bao gồm các hệ sinh thái trên cạn, dưới biển, các thủy vực khác và các phức hệ sinh thái mà chúng cấu thành. Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng của loài, giữa các loài và các hệ sinh thái”.
Trong chƣơng trình hành động đa dạng sinh học Việt Nam có nêu ra một khái niện về đa dạng sinh học: “Đa dạng sinh học là tập hợp tất cả các nguồn sinh vật sống trên hành tinh, gồm tổng số loiaf động vật và thực vật, tính đa dạng và sự phong phú trong từng loài, tính đa dạng hệ sinh thái của cộng đồng sinh thái khác nhau, hoặc tập hợp các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau”.