ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam hiện nay đang đƣợc coi là một trong những nƣớc sẽ chịu ảnh hƣởng nặng do biến đổi khí hậu toàn cầu. Hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu gây cho đất nƣớc ta và nhân dân ta ngày càng rõ ràng, đó là những trận thiên tai, lũ lụt, hạn hán hay rét đậm rét hại,…ảnh hƣởng mạnh và gây thiệt hại không nhỏ đối với kinh tế. Ngoài ra, biến đổi khí hậu còn tác động lên đa dạng sinh học, nguồn tài nguyên quý giá của đất nƣớc. Hiện nay, độ che phủ rừng của nƣớc ta tăng mạnh nhƣng chủ yếu là rừng trồng sản xuất, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển bền vững, chƣa đáp ứng đƣợc các tiêu chuẩn quốc tế nhƣ chứng chỉ CERs (chứng chỉ cacbon).
Điều này gây khó khăn cho việc chuyển đổi mô hình và phát triển nền kinh tế lâm nghiệp. Nấm là thành phần của hệ sinh thái rừng, nó tạo nên sự đa dạng của hệ sinh thái. Các loài nấm giữ vai trò quan trọng của vật phân giải chất hữu cơ và trả lại chất vô cơ, xúc tiến tuần hoàn của các chất C, N, S, P. có tác dụng làm sạch môi trƣờng nƣớc và không khí cho thế giới thực vật và tạo nên hệ thống tự bón phân điều tiết dinh dƣỡng cho rừng.
Bên cạnh đó các loài nấm cũng chứa nhiều axit amin, protein, lipit, vitamin có tác dụng cung cấp thức ăn và thuốc chữa bệnh vô cùng quý giá cho con ngƣời nhƣ nấm đông trùng hạ thảo (Cordyceps sinensis), nấm linh chi (Gannoderma lucidum) có tác dụng để làm thuốc chữa bệnh cho con ngƣời,.có loài nấm còn đƣợc sử dụng làm thực phẩm nhƣ nấm rơm (Volvaria volvacae), nấm sò (Pleurotus sp.), nấm mỡ (Agaricus bisporus Sing. Trong những năm gần đây với sự gia tăng dân số, phá hủy tài nguyên rừng và sự biến đổi của môi trƣờng sinh thái, cùng với đó là sự thiếu hiểu biết và cách sử dụng nấm không đúng, dẫn đến nhiều loài nấm đã bị mất đi, thậm chí còn không biết sự tồn tại của nấm. Vì thế việc nghiên cứu, bảo vệ và sử dụng hợp lý các loài nấm là rất cần thiết, là nhiệm vụ của các nhà khoa học và toàn thể ngƣời dân, là sự nghiệp vì thế hệ mai sau. 1 Vƣờn Quốc Gia Ba Vì – Hà Nội nằm gần khu trung tâm đồng bằng sông Hồng nên chịu tác động rất nhiều của con ngƣời nhƣ du lịch sinh thái, săn bắn, khai thác…Với điều kiện tự nhiên hài hòa, sự thay đổi lớn về độ cao và địa hình nên đa dạng sinh học nói chung và thành phần các loài nấm ở đây là rất đa dạng, đặc biệt là các loài nấm lớn với số lƣợng khá nhiều.
Đa dạng sinh học cũng nhƣ thành phần các loài nấm lớn ở đây chịu rất nhiều ảnh hƣởng của con ngƣời và yếu tố môi trƣờng. Để góp phần nhỏ vào công tác bảo tồn, bảo vệ và duy trì đa dạng các loài nấm lớn ở bằng việc nghiên cứu, đƣa ra một số giải pháp phù hợp, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các loài nấm lớn tại VQG Ba Vì” làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài nấm. 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Nấm trên thế giới Theo thống kê trên thế giới đã có đến 500.000 tài liệu nói về nấm, trong đó nhiều tài liệu đề cập đến những lĩnh vực thành phần loài, đặc điểm sinh thái, đa dạng sinh học của các loài nấm. Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại của Hibbett và M.
Aime (2006) trong cuốn "Kingdom Fungi" mà Kirk P. biên soạn trong cuốn "Từ điển Nấm" (Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008. Chủ yếu là nâng ngành phụ nấm Đảm (Basidiomycotina) thành ngành chính (Basidio-mycota). Theo Mao Xiaolan (2000), Trung Quốc có khoảng 6000 loài, số loài đã biết có gần 2000 loài, phần lớn chúng thuộc các loài nấm Lỗ.
Tại Ấn Độ, nhiều nhà nấm học đã nghiên cứu về nấm Lỗ ở một số vùng khác nhau nhƣ Radariv et al đã nghiên cứu phát hiện 256 loài nấm Lỗ ở Tây Ghats bang Maharashtra. Trong danh lục nấm Lỗ Israel, Daniel Tura (2010) và cộng sự đã ghi chép đƣợc 242 loài thuộc 11 chi. Trong rừng mƣa nhiệt đới Brazil năm 2002, Tatiana B. Gibertoni cũng thông báo về số loài nấm Lỗ mọc trong rừng trên các dạng khác nhau nhƣ trên gỗ, trên cây sống, trên đất.Tại Litva một số tác giả đã nghiên cứu thành phần loài nấm Lớn và nấm Nhầy, năm 2013 công bố 326 loài nấm Lớn tại vƣờn Asveja Regional (Lithuania).
Năm 2013 Roy Halling, vƣờn Thực vật New York Mỹ đã phát hiện nhiều loài nấm nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea và Thái lan. Nhà nấm học Nhật Bản, tiến sỹ Tsutomu Hattori đã nghiên cứu nấm Lỗ ở các nƣớc Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia và Thái lan; Nakason K.K đã công bố một số loài thuộc chi Epithele (bộ nấm Lỗ Polyporales) ở Thái Lan và một số nƣớc khác nhƣ Côngô, Nam Phi và Đài Loan. Đặc biệt, những năm gần đây các nhà nấm học tập trung phân loại nấm Linh chi (Ganoderma sp.) ở các nƣớc nhiệt đới. 3 Việc nhận biết đặc điểm hình thái của nấm đã có từ lâu, từ khi con ngƣời biết sử dụng nấm làm thức ăn.
Tuy vậy, khi đó nó chƣa trở thành một môn khoa học. Khoa học nghiên cứu nấm đƣợc hình thành từ thế kỷ XVIII. Năm 1729, Michell lần đầu tiên quan sát nấm bằng kính hiển vi và đăng bài trên tạp chí “Các chi thực vật”. Năm 1772 trong cuốn “Hệ thống tự nhiên” Lineaus đƣa ra 10 chi nấm mọc trên đất.
Nhiều khoa học nổi tiếng thời kỳ sau này là Peron, Fries, Sweinitz, Corda, Berkley. Khoa học bệnh cây bắt đầu gắn liền với nấm học từ năm 1851. Ngƣời sáng lập là A. Sau này, với sự phát triển đột phá của khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều loài nấm mới và nêu tên chúng trong danh lục các loài nấm.
Những căn cứ để phân loại nấm: dựa vào đặc điểm hình thái, phƣơng thức dị dƣỡng của nấm, quá trình sinh trƣởng, phát triển của nấm. Năm 1881, nhà khoa học Phần Lan Karsten đã đề cập đến việc phân loại nấm dựa vào hình thái thể quả và mỗi quan hệ thân thuộc của chúng, đã đƣợc đông đảo các nhà nấm học trên thế giới công nhận nhƣ: Cuningham G. Đến năm1893, nhà nấm học Phần Lan Donk đã hoàn thiện cho hệ thống phân loại của Karsten. Quan điểm phân loại này đƣợc rất nhiều khoa học trên thế giới chấp nhận nhƣ: Mayer E.
Năm 1971, Aisworth đã đƣa ra hệ thống phân loại nấm một cách hoàn chỉnh. Trong hệ thống phân loại này ông đã dựa vào đặc điểm hình thái của thể quả, đặc điểm giải phẫu và phƣơng thức dinh dƣỡng đã chia giới nấm (Mycota) thành hai ngành: Ngành nấm Nhầy (Myxomycota) và ngành nấm Thật (Eumycota). Từ hai ngành trên, tác giả lại chia thành các lớp, lớp phụ, bộ, họ, chi và loài. Nhƣ vậy, trong một taxon đơn vị phân loại nhỏ nhất là loài.
Tại Tokyo (Nhật Bản), Hiệp hội nấm quốc tế đã đƣợc thành lập năm 1971, đã nêu ra hệ thống phân loại chia giới sinh vật ra thành 6 giới. Nấm 4 đƣợc chia vào giới riêng (dinh dƣỡng hút) khác với giới thực vật (quang hợp) và động vật (dinh dƣỡng nuốt). Trong giới sinh vật đa bào, loài sinh vật nhân thật có rất nhiều quan điểm và hệ thống phân loại, sắp xếp khác nhau. Cho đến nay, hệ thống phân loại nấm của Ainsworth đã và đang đƣợc các nhà nấm học trên thế giới sử dụng.Nghiên cứu về nấm ở Việt Nam Trong giới sinh vật, nấm có khoảng 1.Các nhà nấm học mới chỉ biết tên 70.000 loài, chiếm gần 50% tổng số loài.Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới, địa hình phức tạp, khí hậu và thảm thực vật đa dạng, số loài sinh vật khá nhiều và phong phú.Tuy nhiên, hiện nay nƣớc ta có bao nhiêu loài nấm vẫn là một câu hỏi, bởi chƣa có số liệu chính xác.
Từ cuối thế kỷ XIX, Paloiulard N.T (1890–1928) nhà nấm học ngƣời Pháp đã tiến hành nghiên cứu khu hệ nấm lớn Việt Nam đã đƣa danh lục gần 200 loài nấm lớn. Ông đã mô tả đặc điểm, phân bố và vị trí phân loại các loài nấm trong sinh giới.Đây là tài liệu đầu tiên về khu hệ nấm lớn miền Bắc nƣớc ta.Tác giả gặp nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu, nên số liệu chƣa nhiều về mặt phân loại và định loại tên của một số loài nấm. Sau năm 1954, nhiều nhà khoa học đã có những công trình nghiên cứu về nấm nhƣ “Khu nấm hệ lớn miền Bắc” của Trịnh tam Kiệt (1981). Đi sâu vào bản chất sinh học, sinh lý của nấm là công trình “Một số vấn đề về nấm học” của Bùi Xuân Đồng (1977), “Khoa học bệnh cây” của Đƣờng Hồng Dật (1979), “Đặc điểm sinh học của một số loài nấm phá hoại gỗ” Trần Văn Mão (1984), “Nấm lớn Cúc Phƣơng” của Trần Văn Mão và cộng sự (2004).
Các tác giả đi sâu vào nghiên cứu thành phần loài và một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của nấm mục gỗ. Nhiều tài liệu nghiên cứu bệnh cây rừng liên quan đến phân loại nấm có công trình của Hoàng Thị My (1960), Trần Văn Mão, Đỗ Xuân Quy, Nguyễn Sỹ Giao (1974). Những công trình đã đánh dấu một bƣớc phát triển mới về nghiên cứu nấm ở Việt Nam.Chúng có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học cũng 5 nhƣ thực tiễn sản xuất. Nấm sinh sống trên đất và đất rừng cũng đƣợc mô tả hình thái bên ngoài, nơi thu thập mẫu của Phạm Huy Dục, Trịnh Tam Kiệt.Những năm gần đây việc thu thập, phát hiện, bảo vệ và gây trồng các loài nấm ăn, nấm làm dƣợc liệu đang đƣợc nhiều nƣớc quan tâm, các loài nấm nuôi trồng đƣợc đa phần đều là các loài nấm mục gỗ nhƣ: Nấm mộc nhĩ, nấm ngân nhĩ, nấm sò, nấm hƣơng.
Các công trình nghiên cứu của Văn Mỹ Dung, Pham Quang Thu về nấm ăn và nấm dƣợc liệu đã gặt hái đƣợc nhiều thành quả, góp phần đáng kể trong nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm sinh thái học của nấm lớn. Nghiên cứu của tôi là công trình nghiên cứu đa dạng sinh học của các loài nấm lớn tại VQG Ba Vì.Đề tài nghiên cứu nhằm nâng cao khả năng nhận biết và giá trị bảo tồn và phát triển các loài nấm nơi đây.