ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nƣớc nằm trong khu vực Đông Nam Á với diện tích trên 330.500 km2 nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, là một trong những nƣớc có tính đa dạng sinh học cao với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối…hệ động vật,thực vật nƣớc ta có nhiều loài quý hiếm và đặc hữu.Trong đó đa dạng về côn trùng là rất lớn. Lớp Côn trùng là lớp phong phú nhất trong giới động vật. Theo các nhà sinh vật học thì chúng ta đã biết hơn 1,2 triệu loài động vật trong số đó côn trùng chiếm hơn một nửa. Chúng phân bố khắp mọi nơi, có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và là một mắt xích trong chuỗi thức ăn đồng thời cũng góp phần vào quá trình tuần hoàn chất.
Côn trùng là một thành phần không thể thiếu của hệ sinh thái rừng với các mặt tích cực nhƣ góp phần thụ phấn làm cho mùa màng, cây rừng sai hoa trĩu quả, cung cấp dinh dƣỡng cho các loài động vật, kìm hãm các sinh vật gây hại… góp phần tạo nên cân bằng sinh thái. Ngoài ra côn trùng cũng tạo ra không ít những ảnh hƣởng tiêu cực cho con ngƣời nhƣ: Phá hại cây cối, hoa màu, pha hoại nông sản, đồ đạc, nhà cửa, các công trình, là vật trung gian truyền bệnh… Tuy nhiên với sự phong phú và đa dạng sinh học nhƣ vậy nhƣng do các hoạt động của con ngƣời đã tác động vào tự nhiên quá mức làm suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái biến đổi theo chiều hƣớng xấu đi và làm giảm tính đa dạng sinh học. Điều này đòi hỏi con ngƣời cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác bảo tồn. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trong nhiều năm qua các nhà khoa học nói chung và các nhà côn trùng học nói riêng đã và đang nghiên cứu vai trò của côn trùng đối với con ngƣời.
Từ đó mà nhiều loài mới đã đƣợc phát hiện, hệ thống phân loại côn trùng đƣợc bổ sung nhiều, trong đó có các loài côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng. Khu vực Miếu Trắng là Trung tâm thực hành và thực nghiệm Nông Lâm Nghiệp (trƣớc đây là Trạm thực hành thực nghiệm lâm sinh – phƣờng Bắc Sơn – Uông Bí – Quảng Ninh) thuộc trƣờng Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc đóng trên địa bàn hai phƣờng Bắc Sơn và Vàng Danh – Uông Bí – Quảng Ninh. Với tổng 1 diện tích hơn 900ha khu vực Miếu Trắng phục vụ nghiên cứu cho hàng nghìn lƣợt học sinh, sinh viên và các giáo viên trong và ngoài trƣờng mỗi năm. Đây là khu vực có hệ sinh thái khá phong phú với nhiều loài động thực vật quý hiếm, do vậy việc đầu tƣ xây dựng, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng cần đƣợc tăng cao hơn nữa để tăng tính đa dạng sinh học, trong đó chắc chắn có sự đa dạng về côn trùng.
Tuy nhiên côn trùng ở đây chƣa đƣợc quan tâm và chƣa có công trình, tài liệu nghiên cứu nào về côn trùng nói chung và bộ Cánh nửa cứng nói riêng. Côn trùng bộ Cánh nửa cứng có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng và trong đời sống của con ngƣời. Chúng bao gồm những loài có ích và cả những loài có hại. Đánh giá tính đa dạng sinh học loài có ý nghĩa vô cùng to lớn trong công tác bảo tồn.
Nhận thấy đƣợc tính chất cần thiết của vấn đề này, khóa luận: “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera) tại Miếu Trắng – Thành Phố Uông Bí – Tỉnh Quảng Ninh và đề xuất biện pháp quản lý”đã đƣợc thực hiện với mục đích xác định thành phần loài, sự đa dạng của chúng, đồng thời cung cấp thông tin cập nhật về một số loài Cánh nửa cứng chính tại khu vực Miếu Trắng, đánh giá đƣợc hiện trạng công tác bảo tồn, từ đó đề ra các biện pháp quản lý có hiệu quả. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về côn trùng Côn trùng hay sâu bọ, là một lớp động vật có tên khoa học là Insecta (lớp Côn trùng), đây là lớp lớn nhất thuộc ngành Chân khớp (Arthropoda), phân bố rộng nhất trên Trái Đất. Côn trùng cũng là nhóm phong phú và đa dạng nhất trong giới động vật.
Các ƣớc tính số lƣợng loài trên thế giới là rất khác nhau: Theo Tangley năm 1997 khoảng 751.000 loài, theo Nieuwenhuys năm 1998 khoảng 800.000 loài theo công bố của IUCN năm 2004 và hơn 1.000 loài theo Myers năm 2001. Các tính toán dựa trên ngoại suy từ loài Coleopteravà Lepidoptera tại New Guinea bởi Novotny et al năm 2002 có thể đạt tới con số 3.000 cho tổng số động vật chân đốt trên toàn thế giới. Côn trùng là động vật không xƣơng sống duy nhất có cánh, nhờ cánh côn trùng có thể phát tán và hiện diện hầu nhƣ mọi nơi trên Trái Đất. Hơn nữa do kích thƣớc nói chung nhỏnên côn trùng có thể sống ở những chỗ mà những loài động vật lớn hơn không thể sống đƣợc, và cũng nhờ kích thƣớc nhỏ nên chỉ cần một lƣợng thức ăn nhỏ cũng giúp cho chúng sinh sôi nẩy nở và tồn tại.
Côn trùng có khả năng sinh sản rất cao, một con côn trùng có thể đẻ từ vài trứng đến hàng nghìn trứng. Chúng có sức sống và tính thích nghi rất mạnh. Côn trùng là một nhóm động vật đa dạng bậc nhất thế giới khoảng 1 triệu loài đã đƣợc mô tả, số loài côn trùng chiếm hơn một nửa tổng số loài sinh vật mà con ngƣời đã biết, số loài chƣa đƣợc mô tả có thể lên tới 30 triệu. Ngƣời ta có thể tìm thấy côn trùng ở hầu nhƣ tất cả các môi trƣờng sống trên Trái Đất.000 loài chuồn chuồn; 2.000 loài bọ ngựa; 20.000 loài châu chấu; 17.000 loài hai cánh; 82.000 loài cánh nửa cứng; 350.000 loài cánh cứng và khoảng 110.000 loài cánh màng.
Đặc điểm của bộ Cánh nửa cứng Côn trùng bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera) đƣợc tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới với các hệ sinh thái đa dạng và những nơi có nguồn thức ăn dồi dào. 3 Ngoài những loài có hại cho nền Nông – Lâm Nghiệp thì còn có rất nhiều loài có lợi cho sự phát triển kinh tế trong Nông – Lâm Nghiệp, bảo vệ và làm sạch môi trƣờng. Bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera) là một bộ khá lớn trong lớp Côn trùng (Insecta), phân bố rộng có nhiều họ khác nhau nhƣ: Reduviidae, Anthocoridae, Nabidae, Pentatomidae, Miridae và Lygaeidae. Đa số sống trên cạn, nhƣng cũng có nhiều loài sống trong nƣớc.
Cơ thể dẹp hoặc có hình trụ, dài từ 1 đến 109mm.Dinh dƣỡng đa dạng, nhiều loài là tác nhân gây hại cho cây trồng. Một số loài có ích thuộc nhóm bắt mồi ăn thịt, một số loài khác lại thuộc nhóm ký sinh ngƣời và động vật cấp cao khác. Một trong những đặc điểm cơ bản nhất của côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng là cấu tạo của cánh: Một nửa – hai phần ba cánh trƣớcvề phía gốc cánh có cấu tạo bằng chất sừng do đƣợc chitin hóa cứng, nửa phần còn lại bắng chất màng. Vì vậy đƣợc gọi là bộ Cánh nửa cứng.
Cánh sau bằng chất màng và thƣờng ngắn hơn cánh trƣớc. Ở trạng thái nghỉ, cánh thƣờng đƣợc xếp bằng trên cơ thể. Miệng thuộc kiểu chích hút, vòi chích thƣờng dài, phân đốt, phát triển từ phần trán của đầu và kéo dài về phía sau dọc theo phần ngực bụng. Râu đầu thƣờng dài, hình sợi chỉ, có từ 4 – 5 đốt.
Mắt kép thƣờng rất phát triển, có mắt đơn hoặc không có. Mảnh lƣng ngực trƣớc rộng, mảnh thuẫn/phiến mai (scutellum) phát triển nằm giữa hai chân cánh, ở một số loài phiến này rất phát triển, che khuất một nửa hoặc toàn bộ phần bụng. Bụng gồm các đốt dính chặt vào nhau đƣợc cánh che phủ. Thiếu trùng gần giống dạng trƣởng thành nhƣng cánh còn ở dạng mầm, ngắn.Rất nhiều loài có tuyến hôi, tuyến này thƣờng nằm ở phía bên của ngực.
Đa số có cánh phát triển nhƣng cũng có một số loài có cánh ngắn, cánh trƣớc không có phần màng. Đẻ trứng trên hoặc trong cây hoặc trong những khe nứt trên các bộ phận của cây. Trứng thƣờng có nhiều màu sắc và có dạng hình trống, tròn, bầu dục có nắp, và thƣờng đƣợc xếp thành hàng, khối, đều đặn. Biến thái không hoàn toàn: Từ trứng nở ra ấu trùng và biến đổi dần dần đến khi trƣởng thành, không qua giai đoạn nhộng, ấu trùng và con trƣởng thành 4 có khá nhiều đặc điểm cơ thể giống nhau.
Hầu hết các loài côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng ăn thực vật, nhựa cây, một số khác ăn thịt, ăn các loại côn trùng khác thậm chí có thể ăn những động vật có xƣơng sống nhỏ. Một số họ thuộc bộ cánh nửa cứng thích nghi với cuộc sống ở dƣới nƣớc, chúng chủ yếu ăn thịt, có chân nhƣ mái chèo để di chuyển trong nƣớc. Tổng quan nghiên cứu về côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứng ở ngoài nƣớc Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa cứng khá đa dạng, tập trung vào các vấn đề phân loại, đặc điểm sinh học, sinh thái học hoặc đánh giá sự đa dạng trong từng khu vực hay đƣa ra các biện pháp quản lý… Trong các tác phẩm nghiên cứu của nhà triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa đƣợc hơn 60 loài côn trùng. Ông gọi tất cả những loài côn trùng ấy là những loài có chân đốt.
Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh năm 1745. Hội côn trùng Nga đƣợc thành lập năm 1859. Có thể kểđến công trình nghiên cứu của Cobben (1968, 1978) về tiến hóa của các họ thuộcHemiptera. Công trình này đề cập đến cấu trúc và sự phát triển củatrứng và ấu trùng, cấu trúc của các phần phụ miệng và một số cấu trúc khác.
Hsiao, 1963, 1977, 1981đã trình bày đặc điểm của một số loài côn trùng bộ Cánh nửa cứng đặc biệt là họ Coreidae. đã có những nghiên cứu về bọ xít thuộc họ Cydnidae ở vùng cận đông. Năm 2004 bộ mẫu ảnh sinh thái 600 loài côn trùng Trung Quốc của Triệu Mai Quân NXB Khoa học Thƣợng Hải đƣợc xuất bản. Đã nghiên cứu chi tiết về đặc điểm sinh thái của các loài côn trùng và trong đó một số loài côn trùng bộ Cánh nửa cứngcũng đƣợc mô tả rõ trong tài liệu.
Tổng quan nghiên cứu về côn trùng thuộc bộ Cánh nửa cứngở trong nƣớc Việt Nam là nƣớc nhiệt đới gió mùa, nằm ở rìa phía đông nam của phần lục địa Châu Á, giáp với biển Đông nên chịu ảnh hƣởng trực tiếp của kiểu khí 5 hậu gió mùa.