ĐẶT VẤN ĐỀ Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệsinh thái trong tự nhiên. Đa dạng sinh học đƣợc xem xét theo 3 mức độ: Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khu n đến các loài thực, động vật và các loài nấm. Theo quan điểm năm giới (Whittaker), cùng với động vật, thực vật , sinh vật nguyên thủy (vi khu n, tảo, lam,. ) nấm tạo thành một thế giới riêng biệt trên hành tinh của chúng ta.
Giới nấm ngày càng có ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế quốc dân, trong khoa học cũng nhƣ là một yếu tố không thể thiếu trong vòng tuần hoàn vật chất. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 7.000 loài nấm lớn trong 1 triệu 500 loài nấm, nhƣng tồn tại thực tế chỉ hơn 3.000 loài nấm lớn trong số hơn 72.000 loài nấm đã biết, phần lớn chƣa đƣợc nghiên cứu lợi dụng. Việc thu thập, phân loại, nắm vững các đặc tính sinh học của nấm sống trong các hệ sinh thái rừng, nghiên cứu và tận dụng các loài nấm lớn có tác dụng rất quan trọng trong việc bảo tồn tính đa dạng sinh học sẽ góp phần làm giàu rừng, phát triển rừng bền vững và bảo vệ môi trƣờng. Hiện nay theo thống kê của GS.
Trịnh Tam Kiệt có khoảng 14000 đến 22000 loài nấm lớn, trong đó có khoảng 50% là nấm ăn Mushrooms) và có khoảng 7000 loài có khả năng làm thuốc chữa bệnh, 2000 loài nấm có thể nuôi trồng làm thực ph m cho con ngƣời. Nhƣng trong thực tế còn rất nhiều loài nấm chƣa đƣợc biết đến, chƣa đƣợc định loài và nêu tên trong danh lục. Nấm lớn hay thể quả nấm lớn thƣờng để chỉ những loại nấm thuộc nghành Basidiomycota và Agaricomycetes. Thể quả nấm thƣờng đƣợc biết đến với hai dạng: nấm ăn đƣợc và nấm độc.
Nấm là sinh vật không thể thiếu trong đời sống, không có nấm chu trình tuần hoàn vật chất sẽ mất đi một mắt xích quan trọng trong việc phân hủy chất bã hữu cơ. Nấm còn đem lại nguồn thực ph m giàu chất dinh dƣỡng, chứa nhiều loại protein, nhiều loại vitamin nhƣ vitamin B1, B2, PP,. và các axit amin thiết yếu, không gây xơ cứng động mạch và không làm tăng cholesterol trong máu,. phải kể đến nhƣ: nấm sò (Pleurotus 1 ostreatus), nấm hƣơng Lentinula edodes), nấm rơm Volvariellavolvacea),.
Nấm còn có nhiều tác dụng dƣợc lý khá phong phú nhƣ: tăng cƣờng khả năng miễn dịch của cơ thể, kháng ung thƣ và kháng virut, ngăn ngừa và trị liệu các bệnh tim mạch, hạ đƣờng máu, chống phóng xạ, chống oxy hóa và bảo vệ tế bào gan, an thần, rất có lợi cho việc điều chỉnh hoạt động của hệ thần kinh trung ƣơng. Một số loài nấm là nguồn dƣợc liệu quý nhƣ nấm đông trùng hạ thảo (Ophiocordyceps sinensis), nấm linh chi (Ganoderma lucidum), mộc nhĩ trắng (Tremella fuciformis),. Tuy nhiên, theo nhiều nguồn tài liệu cho thấy, hiện nay ở trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, tính đa dạng của các loài nấm lớn đang có xu hƣớng giảm dần do nhiều nguyên nhân nhƣ: sự tác động tiêu cực của con ngƣời vào hệ sinh thái rừng và môi trƣờng, sự thay đổi của khí hậu, môi trƣờng. Bên cạnh đó, công tác quản lý và bảo tồn, phát triển các loài nấm lớn còn chƣa thực sự đƣợc chú trọng, đặc biệt là ở các địa phƣơng do ngƣời dân chƣa nhận thức đƣợc tầm quan trọng và giá trị to lớn mà nấm đem lại.
Với một xã vùng núi còn nhiều khó khăn nhƣ xã Đông Thọ, thuộc huyện Sơn Dƣơng, tỉnh Tuyên Quang thì việc nghiên cứu các vấn đề về nấm lớn chƣa đƣợc thực hiện. Qua tham khảo tài liệu và thực tiễn, tôi nhận thấy tỉnh Tuyên uang nói chung và xã Đông Thọ nói riêng có tính đa dạng sinh học khá cao, thuận lợi cho việc phát triển của nhiều loài nấm lớn. Do đó, tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học các loài nấm lớn tại xã Đông Thọ - Sơn Dương - Dương - Tuyên Quang”, nhằm đƣa ra một số biện pháp quản lý các loài nấm lớn trên địa bàn xã, đồng thời làm cơ sở để nghiên cứu phát triển một số loài nấm lớn có ích ở địa phƣơng, giúp nâng cao đời sống kinh tế của ngƣời dân cũng nhƣ bảo tồn tính đa dạng sinh học sẵn có. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Trên thế giới Nấm nói chung và nấm lớn nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống con ngƣời, chúng là nguồn thực ph m giàu chất dinh dƣỡng (Termitomyces albuminosu, Macrocybe gegantea), là nguồn thức ăn quý đƣợc con ngƣời ƣa chuộng, chứa nhiều protein, các chất khoáng và vitamin (A, B, C, D, E.
Nhiều loài nấm đƣợc ứng dụng trong công nghiệp dƣợc ph m, là nguồn nguyên liệu để điều chế các hoạt chất điều trị bệnh nhƣ: Laricifomes officinalis là nguyên liệu để chiết aragicin dùng trong chữa bệnh lao hoặc dùng làm thuốc nhuận tràng hay chất thay thế cho quinine. Các chế ph m từ nấm linh chi (Ganoderma đƣợc dùng để hỗ trợ điều trị nhiều bệnh nhƣ bệnh gan, tiết niệu, tim mạch, ung thƣ, AIDS. Trong thể quả nấm Ganoderma lucidum có các hoạt chất khác nhau có hoạt tính kháng virus. Chúng có tác dụng kìm hãm sự sinh trƣởng và phát triển của virus HIV.
Các hoạt chất từ Ganoderma applanatum có hiệu lực chống khối u cao, chúng đƣợc sử dụng trong điều trị ung thƣ: ung thƣ phổi, ung thƣ vú, ung thƣ dạ dày. Các dẫn xuất adenosine có trong Ganoderma capense và G.amboinense có tác dụng giảm đau, giãn cơ, ức chế kết dính tiền tiểu cầu. Nhiều hoạt chất từ linh chi có khả năng đào thải phóng xạ, hạn chế và loại trừ những tổn thƣơng do phóng xạ ở mô và tế bào. Con ngƣời đã biết cách sử dụng nấm nhằm đáp ứng nhu cầu của mình từ rất lâu đời, chúng ta đã có 6000 năm sử dụng nấm nhƣng về phân loại thì chỉ đƣợc hình thành từ thập kỷ XVII.
Năm 1729, Michel lần đầu tiên quan sát nấm bằng kính hiển vi và phát biểu trên tạp chí “Các chi thực vật”. Năm 1772, trong cuốn “Hệ thống tự nhiên” Leneaus đƣa ra 10 chi nấm mọc trên trái đất. Với sự phát triển đột phá của khoa học nấm các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều loài nấm mới và nêu tên chúng trong danh lục các loài nấm. Những căn cứ để căn cứ để phân loại nấm cũng nhiều thêm nhƣ căn cứ vào hình thái, phƣơng thức dị dƣỡng chu trình phát triển của tế bào.
Hệ thống phân loại nấm 3 Lỗ Aphyllophonales ngày nay thƣờng tuân theo hệ thống phân loại của Whitaker & Margulis (1978). Căn cứ vào hình thái thể quả nấm và các mối quan hệ thân thuộc của chúng, năm 1881 nhà khoa học Phần Lan Karsten đã đề cập đến việc phân loại nấm đƣợc đông đảo nhà khoa học trên thế giới công nhận nhƣ: Cuningham G. Năm 1971, Asiworth đã đƣa ra hệ thống phân loại nấm một cách hoàn chỉnh. Trong hệ thống phân loại này, ông đã dựa vào đặc điểm hình thái của thể quả nấm, đặc điểm giải phẫu và phƣơng thức dinh dƣỡng đã chia giới nấm (Mycota) thành 2 nghành: nghành nấm nhầy (Myxomycota) và nghành nấm thật (Eumycota).
Từ hai nghành trên ông lại chia thành các lớp, lớp phụ, bộ, họ, chi, giống, loài. Nhƣ vậy trong một taxon phân loại thì đơn vị nhỏ nhất là loài. Năm 1993 nhà nấm học ngƣời Phần Lan Donk đã hoàn thiện hệ thống phân loại của Karsten. uan điểm phân loại này đƣợc rất nhiều nhà khoa học trên thế giới chấp nhận nhƣ Mayer E.
Hiệp hội nấm quốc tế đƣợc thành lập năm 1971, lần đầu triệu tập thứ 3 ở Tokyo – Nhật Bản đã nêu ra hệ thống phân loại chia giới sinh vật ra thành 6 giới. Nấm đƣợc chia vào giới riêng dinh dƣỡng hút) khác với thực vật (quang hợp và động vật dinh dƣỡng nuốt) trong giới sinh vật đa bào loài nhân thật đã trình bày ở trên có rất nhiều quan điểm và cách sắp xếp khác nhau. David Pegler và Brian Spooner (1994) nghiên cứu nấm ở Bắc Mỹ và châu Âu trong tác ph m “The mushroom indentifier” đã công bố, mô tả 341 loài. Ryvarden và Gillbetson (1993, 1994) công bố công trình nấm lỗ của châu Âu “European polypores” đã mô tả 322 loài.
Chee-Jen Chen (1998) nghiên cứu hình thái và cấu trúc phân tử của chi Tremella ở Đài Loan trong tác ph m “Morphological and molecular phylogenneis in the genus Tremella”, tác giả đã mô tả 26 loài thuộc chi Tremella.Ở Việt Nam Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về nấm đƣợc bắt đầu tiến hành trong giai đoạn bị Pháp đô hộ. Ngƣời Pháp nghiên cứu nhiều nhất ở Việt Nam là N.Patouillard (1890-1928 với nhiều công trình nổi tiếng: Nghiên cứu khu hệ nấm ở Đông Dƣơng 1897 , “ uelques champignons du Tonkin” 1925. Ngoài ra còn nhiều nhà nấm học khác. ua các công trình nghiên cứu nấm ở Việt Nam giai đoạn 1890 – 1928, tổng cộng có khoảng 200 loài, trong đó 28 loài phân bố ở Trung bộ và 37 loài ở Bình Trị Thiên với 6 loài phân bố ở đèo Hải Vân: Amauroderma rude (Berk) Torrend, Hymenochaete adusta (Lév.) Bres, Laetiporus sulphureus (Bull.
Fr) Murr, Microporus affinis (Blume & Nees) O. Ktze,Phylloporia fructica (Berk & Curt) Ryv. và Polyporus grammocephalus Berk. Phạm Hoàng Hộ 1953 là ngƣời Việt Nam đầu tiên có công trình nghiên cứu về nấm với tác ph m “Cây cỏ miền nam Việt Nam” ông đã mô tả vắn tắt 48 chi, 31 loài nấm.
Ở miền Bắc Việt Nam, việc nghiên cứu nấm đƣợc bắt đầu vào năm 1954 tại Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc bấy giờ với các công trình tiêu biểu của Nguyễn Văn Diễn 1965 đã mô tả 28 loài nấm ăn đƣợc và 10 loài nấm độc, Trƣơng Văn Năm 1965 “Nghiên cứu nấm sống trên gỗ ở lâm trƣờng Hữu Lũng”, Trịnh Tam Kiệt với đề tài “Bƣớc đầu điều tra bộ Aphyllophorales vùng Hà Nội” 1965 và “Sơ bộ điều tra nghiên cứu các loài nấm ăn và nấm độc chính ở một số vùng miền Bắc Việt Nam” 1966. Tính đến năm 1978 đã có 618 loài thuộc 150 chi đƣợc ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các tác giả: Lê Bá Dũng 1977 “Nghiên cứu họ Polyporaceae miền Bắc Việt Nam đã mô tả 22 loài; Lê Văn Liễu 1977 “Một số nấm ăn đƣợc và nấm độc ở rừng” với 118 loài; Năm 1978, Trịnh Tam Kiệt công bố “Những dẫn liệu về hệ nấm sống trên gỗ vùng Nghệ An”, tác giả đã mô tả 90 loài nấm sống trên gỗ.