ĐẶT VẤN ĐỀ Đa dạng sinh học là sự phong phú về loài và nguồn gen trong tự nhiên. Đa dạng sinh học cung cấp trực tiếp những phúc lợi cho xã hội nhƣ: lƣơng thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, năng lƣợng, vật dụng hàng ngày…Trong bảo tồn đa dạng sinh học, đa dạng sinh vật rừng luôn chiếm một ví trí quan trọng trong cuộc sống. Có rất nhiều nhà khoa học đã đi sâu vào nghiên cứu sự phong phú về thành phần và số lƣợng loài cùng với việc bảo tồn đa dạng sinh học. Theo ƣớc tính có cơ sở khoa học về thực vật bậc cao có khoảng gần 12000 loài, 3000 loài động vật có xƣơng sống, bên cạnh đó có 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2000 loài tảo.
Hiện nay theo thống kê của GS.TS Trịnh Tam Kiệt có khoảng 14000 đến 22000 loài nấm lớn, trong đó có khoảng 50% là nấm ăn (mushrooms) và có khoảng 7000 loài nấm có khả năng loài làm thuốc chữa bệnh, 2000 loài nấm có thể nuôi trồng làm thực phẩm cho con ngƣời. Nhƣng tồn tại trong thực tế còn rất nhiều loài nấm chƣa đƣợc biết đến, chƣa đƣợc định loài và nêu tên trong danh lục. Nấm là một thành phần của hệ sinh thái rùng, nó tạo nên sự đa dạng của hệ sinh thái. Các loài nấm lớn giữ vai trò quan trọng của vật phân giải chất hữu cơ và trả lại chất vô cơ xúc tiến tuần hoàn của các chất C,N,S,P…có tác dụng làm sạch môi trƣờng nƣớc và không khí cho thế giới thực vật và tạo nên hệ thống tự bón phân điều tiết dinh dƣỡng cho rừng.
Bên cạnh đó các loài nấm cũng chứa nhiều axit amin, protein, lipit, vitamin có tác dụng cung cấp thức ăn và thuốc chữa bệnh vô cùng quý giá cho con ngƣời nhƣ nấm Đông trùng hạ thảo (Cordyceps sinensis) nấm linh chi (Gannoderma lucidum) có tác dụng là thuốc chữa bệnh cho con ngƣời…các loài nấm còn đƣợc sử dụng làm thực phẩm nhƣ nấm rơm (Volvaria volvacae), nấm sò (Pleurotus spp.), nấm mỡ (Agaricus bisporus Sing. Trong thời đại xã hội công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng phát triển thì sự phá hoại tài nguyên rừng làm mất cân bằng sinh thái làm suy giảm sự đa dạng sinh học. Nguyên nhân chính là do sự gia tăng dân số quá nhanh, cùng với hoạt 1 động kinh tế trong thời đại công nghiệ hóa đã làm suy giảm diện tích rừng một cách nhanh chóng, làm mất đi sự đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh thái. Vì vậy việc bảo vệ và sử dụng các loài nấm không chỉ là nhiệm vụ của các nhà khoa học mà cần sự liên kết của tất cả cộng đồng trong sự góp phần bảo vệ các loài nấm nói riêng và đa dạng sinh học nói chung.
Việt Nam hiện nay có 13 Vƣờn Quốc gia trải dài từ Bắc vào Nam với tổng diện tích hơn 320.000 ha trong đó Huyện Bá Thƣớc – Tỉnh Thanh Hóa là một vùng miền núi có diện tích rừng tự nhiên rất lớn trong đó có rất nhiều loài nấm lớn. Việc nghiên cứu thành phần loài nấm từ trƣớc tới nay cũng có một số đề tài nghiên cứu tính đa dạng sinh học của các loài nấm lớn ở một khu vực Huyện Bá Thƣớc nhƣng vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu công trình nghiên cứu nào chuyên khảo ở Việt Nam. Xã Cổ lũng - huyện Bá Thƣớc là khu vực có diện tích lớn, sự đa dạng sinh học khá cao, đặc biệt là các loài thực vật và nấm, nơi đây cũng là nơi tôi sinh ra và lớn lên. Đã có những đề tài nghiên cứu về động thực vật khác nhau nhƣng chƣa có công trình nào nghiên cứu về nấm, chính vì vậy để cung cấp thông tin về các loài nấm và đƣa ra các giải pháp quản lý nên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng sinh học các loài nấm lớn tại xã Cổ Lũng - huyện Bá Thước – Tỉnh Thanh Hóa”.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Trên thế giới Từ xa xƣa con ngƣời đã dựa vào tính đa dạng sinh học để sống. Nhƣng cùng với tiến trình phát triển văn minh xã hội,con ngƣời đã mang lại những ảnh hƣởng xấu cho môi trƣờng, tính đa dạng sinh học của một số loài bị hủy diệt. Theo dự đoán của các nhà khoa học trong vòng 20-30 năm nữa một phần tƣ số loài có nguy cơ tuyệt chủng. Nghĩa là khoảng 376.000 loài sinh vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Các nhà khoa học về nấm đã trải qua 200 nghiên cứu mới biết 70.000 chƣa hề biết. Nhiều vùng các nhà khoa nấm học chƣa hề đặt chân tới. Từ lâu con ngƣời đã biết sử dụng nấm để đáp ứng nhu cầu của con ngƣời, nhƣng về phân loại nấm thì chỉ đƣợc hình thành từ thập kỷ XVIII. Năm 1729 Michell lần đầu tiên quan sát nấm bằng kính hiển vi và đƣa ra những quan điểm của mình trên tạp chí “ Các chi thực vật”.
Năm 1772 trong cuốn “Hệ thống tự nhiên” Lineaus đƣa ra 10 chi nấm mọc trên đất. Nhiều nhà khoa học nổi tiếng về nấm thời kỳ sau là Peron, Fries, Sweinitz, Corda, Berkley… Khoa học bệnh cây bắt đầu gắn liền với nấm học từ năm 1851. Ngƣời sáng lập là A. Sau đó với sự phát triển đột phá của khoa học nấm các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều loài nấm mới và nêu tên chúng trong danh lục các loài nấm.
Những căn cứ để phân loại nấm cũng nhiều thêm nhƣ căn cứ vào hình thái, căn cứ vào phƣơng thức dị dƣỡng của nấm, chu trình phát triển của tế báo nấm. Hệ thống phân loại nấm Lỗ (Aphyllophonales) ngày nay thƣờng tuân theo hệ thống phân loại : của Whitaker Và Margulis (1978). Căn cứ vào hình thái thể quả và các mối quan hệ thân thuộc của chúng, năm 1881 nhà khoa học Phần Lan Karsten đã đề cập đến việc phân loại nấm và đƣợc đông đảo nhà khoa học nấm trên thế giới công nhận nhƣ : Cuningham G. Năm 1971 Aisworth đã đƣa hệ thống phân loại nấm một cách hoàn chỉnh.
Trong hệ thống phân loại này ông đã dựa vào đặc điểm hình thái của thể quả, đặc 3 điểm giải phẫu và phƣơng thức dinh dƣỡng đã chia giới nấm (Mycota) thành 2 nghành : Nghành nấm Nhầy (Myxomycota) và nghành nấm Thật (Eumycota). Từ nghành trên ông lại chia thành các lớp, lớp phụ, bộ, họ, chi, giống, loài. Nhƣ vậy trong một taxon phân loại thì đơn vị nhỏ nhất là loài. Năm 1993 nhà nấm học ngƣời Phần Lan Donk đã hoàn thiện cho hệ thống phân loại của Karsten.
Quan điểm phân loại này đƣợc rất nhiều nhà khoa học trên thế giới chấp nhận nhƣ : Mayer. Hiệp hội quốc tế đã đƣợc thành lập năm 1917, lần triệu tập thứ 3 ở Tokyo Nhật Bản đã nêu ra hệ thống phân loại chia giới sinh vật ra thành 6 giới. Nấm đƣợc chia vào giới riêng (dinh dƣỡng nuốt) trong giới sinh vật đa bào loài nhân thật nhƣ đã trình bày ở trên có rất nhiều quan điểm và cách sắp xếp khác nhau. Cho đến nay hệ thống phân loại của Ainsworth đã và đang đƣợc các nhà nấm học trên thế giới sử dụng.
Ở Việt Nam Cuối thế kỉ XIX, Paloullard. Nhà nấm học Pháp điến hành khu hệ nấm lớn ở Việt Nam đã đƣa ra danh mục 200 loài nấm. Ông đã mô tả đặc điểm phân bố và vị trí phân loại của các loài nấm trong sinh giới. Từ trƣớc tới nay ở Viêt Nam ngƣời có những đóng góp tới công trình nghiên cứu to lớn về các loài nấm là tác giả Trịnh Tam Kiệt.
Công trình nghiên cứu phải kể đến là " Khu hệ nấm ở miền Bắc Việt Nam" của ông (1981). Đi sâu vào bản chất sinh học, sinh lý của nấm là công trình "Một số vấn đề nấm học" của Bùi Xuân Đồng (1977), "Khoa học bệnh cây" của Đƣờng Hồng giật (1979), "Đặc điểm sinh học của một số loài nấm phá hại gỗ" của Trần Văn Mão (1984) Nấm lớn Cúc Phƣơng" của Trần Văn Mão và cộng sự (2004)…Các tác giả đi sâu vào nghiên cứu thành phần loài và một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của nấm mục gỗ. Gần đây (2005), nhóm nghiên cứu của Lê Thị Mai Hƣơng và các cộng sự đã nghiên cứu các hoạt chất từ một số loài nấm lớn, đã tách tinh sạch và đặc tính, tính chất của laccase từ nấm Agarius blazei đƣợc nhân nuôi trên môi trƣờng MEA. Trần Đình Thắng, Nguyễn Hoa Du, Lê Văn Hiệp và cộng sự (2012) đã tiến hành 4 khảo sát thực địa một số địa điểm đa dạng sinh học vùng Bắc Trung Bộ đã thu đƣợc hơn 30 loài nấm thuộc Coriolaceae, Ganodermataceae và Lentinaceae.
Trên cơ sơ phân tích các chất có hoạt tính sinh học cao của một số loài thuộc họ Coriolaceae, Ganodermataceae và Lentinaceae đã chiết suất đƣợc một số chất có tác dụng làm dƣợc liệu. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Cổ Lũng là một xã vùng núi cao đặc biệt khó khăn, cách trung tậm huyện lỵ 18km về phía bắc, vị trí địa lý nhƣ sau: Phía bắc giáp xã Lũng Cao, huyện Bá Thƣớc. Phía đông nam giáp xã Hạ Trung và xã Ban Công, huyện Bá Thƣớc.
Phía đông giáp xã Tự Do, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Phía tây giáp xã Lũng Niêm, huyện Bá Thƣớc. Bản đồ tại khu vực nghiên cứu xã Cổ Lũng – huyện Bá Thƣớc – tỉnh Thanh Hóa 6 2. Địa hình địa thế Cổ Lũng là một trong 6 xã vùng cao huyện Bá Thƣớc, có độ cao từ 500- 1000m so với mực nƣớc biển và độ dốc lên trên 250 chiếm 70% diện tích tự nhiên của xã.
Độ chia cắt địa hình tƣơng đối cao, gây ảnh hƣởng đến việc đi lại, sản xuất nông, lâm nghiệp nhất là trong trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Khí hậu, thời tiết Cổ Lũng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, đƣợc chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mƣa từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Theo tài liệu của trạm khí tƣợng, thủy văn trong vùng có đặc điểm khí hậu nhƣ sau: Nhiệt độ trung bình năm từ 24-250C, nhiệt độ tối cao là 380C, tối thấp là (-3) đến (-50)C. Lƣợng mƣa phân bố không đều rải rác từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, tập trung chủ yếu vào tháng 7,8,9.
Năm sớm hơn bắt đầu từ tháng 3 và kết thúc muộn hơn vào tháng 11. Tháng 2 đến tháng 4 lƣợng mƣa chiếm từ 2 đến 3% tổng lƣợng mƣa trong năm từ 48 đến 72mm. Lƣợng mƣa trung bình trong năm từ 2.