đặt vấn đề nhận thức lại trong mối quan hệ lịch sử thì Lão Khổ là một trong những tiểu thuyết điển hình của Tạ Duy Anh mà Hoàng Ngọc Hiến đã từng đánh giá là đã góp “thêm một giả thuyết về bản chất người nông dân” trong giai đoạn văn học đổi mới. Cuộc đời ông Khổ là sự tổng kết một giai đoạn lịch sử đầy biến động, và không tránh khỏi những sai lầm, sai lầm lịch sử, sai lầm số phận “lừng danh một thời, ba đào một thời, lụn bại một thời” [2,tr. Cuộc đời của Lão Khổ làm nên một lịch sử đầy sóng gió mà lịch sử của cộng đồng là cái phông nền để cho bức tranh về số phận, cuộc đời và bản chất của người nông dân có tên Tạ Khổ hiện lên. “Đời ông Khổ là một bằng chứng cho sự long đong của kiếp người…” [2, tr.
Sau những chiêm nghiệm về cái được cái mất, lão Khổ tự tổng kết: “Đời lão xét đến cùng, là hiện thân cho sự đổ vỡ thảm hại” [2]. 17 Tạ Duy Anh không chú trọng đến năm tháng cụ thể, chỉ nêu tên sự kiện là mốc thay đổi cuộc đời nhân vật. Nghĩa là nhà văn xem xét lịch sử trên phương diện cá nhân chứ không mô tả diễn biến của sự kiện mang tính lịch sử của toàn dân tộc. Đời lão từ một thằng đi ở bị bóc lột đến tận xương tủy và chịu biết bao nhục nhã cùng cực bỗng chốc thăng hoa lên đến đỉnh cao của quyền lực, được nắm trong tay chức Chủ tịch xã; đang thăng hoa thì đột ngột từ đỉnh cao lão lại bị rơi xuống đáy sâu của vòng tù tội; khi cải cách ruộng đất đến, lão bị đưa ra truy tố, thành một thằng Quốc dân Đảng, một tên gián điệp.
Rồi như để sửa sai cho hành động bị bỏ tù 8 tháng ở chuồng trâu, lão được khôi phục danh hiệu chiến sĩ cách mạng, được cất nhắc làm Chủ tịch xã. Lão say mê thử nghiệm mô hình cuộc sống mới dẫn đến Thiên Đường, để rồi cuối cùng lại bị quẳng xuống dưới đáy, bị vò nát tấm lí lịch thành một “kẻ mất hết khả năng làm công dân”, bị đem ra trước tòa như một tên tội phạm nguy hiểm. Bàn tay tráo trở của lịch sử có thể đưa người ta “lên voi” nhưng cũng bất ngờ lật ngược bàn tay, đẩy họ xuống kiếp “chó”, rơi vào những hoàn cảnh cực kỳ trớ trêu. Lịch sử như một cô nàng đỏng đảnh, đong đưa mà con người như là con rối trong tay lịch sử, rốt cuộc số phận chỉ là một trò đùa ác nghiệt.
Lịch sử dẫn lão Khổ đến đỉnh vinh quang, nhưng cũng chính lịch sử vứt toẹt mọi phẩm hạnh, đưa đẩy lão rơi xuống vực thẳm. Qua nhân vật lão Khổ, chúng ta có thể soi chiếu đến những số phận khác trong tiểu thuyết, trong và sau Đổi mới, đó là nhân vật Nghĩa, Vạn và Hạnh trong Bến không chồng, là Phương và Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh, và Sài trong Thời xa vắng… Chừng ấy mẩu cuộc đời đầy bi kịch, sóng gió. Tuổi trẻ của lão cũng giống như hình ảnh anh nông dân Chí Phèo lương thiện. Một thanh niên khỏe mạnh với tâm hồn trong trắng, chất phác, hiền lành bị đánh thức ước mơ hạnh phúc về gia đình đầm ấm khi đứng trước một người con gái.
Giống như một câu chuyện cổ tích thơ mộng, một anh chàng 18 chăn vịt bên lều cỏ bỗng chốc đổi đời sau một đêm dẫn đầu đoàn người vùng lên lật đổ ách áp bức, bóc lột và nắm lấy chính quyền. Đời lão Khổ phất lên đến chức Chủ tịch xã đầy uy quyền. Lão mơ màng hoang tưởng tìm cách đưa mọi người tới Thiên Đường. Lão hăng say làm việc tốt, nhưng cũng không ít lần lão hành động như một kẻ cố chấp, nuôi dưỡng hiềm thù.
Lão ra tay thanh trừng Tạ Bông. Lão đẩy cả một chi họ của Tư Vọc tan gia bại sản, phải lũ lượt tha hương, uất ức chờ thời, đợi ngày quay về phục thù, rửa hận. Lão làm cho Tạ Tự bị cô lập đến mức bị mọi người ruồng bỏ, tẩy chay. Không những thế, những đứa trẻ vô tội, con cái của kẻ thù, cũng bị Lão khép vào tội “đời cha ăn mặn”.
Lão ức hiếp ngay cả với tuổi thơ của hai đứa bé Hai Duy và bé Tâm. Lão làm tất cả những việc ấy mà không hề hay biết rằng, chính những việc làm ấy đang đưa lão trượt dốc xuống địa ngục, tự biến mình thành quỷ dữ. Lão đã dần đánh mất tình thương và lòng vị tha. Lão trở thành một công cụ đắc lực của quyền lực, một cái máy cứng nhắc của thể chế mới, với mong muốn mặc đồng phục cho tất cả mọi người.
Đồng thời với việc nhìn lại lịch sử cuộc đời mình, lão Khổ cũng nhìn nhận lại những được mất trong cuộc đời chung. Luẩn quẩn với vòng thù hận cứ truyền từ đời này sang đời nọ, hết thế hệ này sang thế hệ khác, dai dẳng kéo lê và đày đọa những số phận con người theo những thăng trầm của lịch sử, lúc lên voi lúc lại xuống chó. Làng Đồng bé nhỏ phải gánh vác sức nặng của sự chây ì đang cố thủ trong lâu đài định kiến. “Bước qua lời nguyền” như là một thách thức mà bao đời nay vẫn chưa vượt qua được.
Dường như Lão Khổ là một sự tiếp nối, tập hợp một cách đầy đủ, triệt để hơn từ những truyện ngắn trước đó. Đó là những lời nguyền dòng họ, là những lời nguyền truyền kiếp đã đến mức lạc hậu, lỗi thời nhưng vẫn như một đám mây đen bao trùm lấy cả làng Đồng, tạo nên những huyền thoại 19 về làng Đồng, một thế giới biệt lập tưởng như chỉ có ở thời tiền cổ, với những tư duy ấu trĩ, cổ hủ tưởng như đã bị đào thải thì nay vẫn đang đè nặng lên vai những người đang sống, ghì con người xuống sát đất, “sự cắn xé nhau liên miên, đến nỗi cắn xé như một đặc tính nguyên thủy của đám người khốn khổ ấy” [2,tr. Những thế hệ thanh niên mới, có những người được học hành tử tế, thành tài như Hai Duy, cũng có lúc bất lực trước sức mạnh ghê gớm của thế lực bảo thủ của cái làng Đồng – một thế giới thu nhỏ biệt lập, mà đành phải bỏ đi biệt xứ. Cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc là một cuộc kháng chiến trường kỳ với biết bao khó khăn gian khổ, đổ cả máu và nước mắt nhưng sức mạnh cộng hưởng của sự đồng lòng đã vượt lên tất cả làm nên chiến thắng vĩ đại.
Nhưng trong thời bình, cuộc cánh mạng để loại bỏ tàn dư của những quan niệm ấu trĩ, hủ tục lạc hậu, lỗi thời vẫn tồn đọng trong những ngõ ngách của đời sống hàng ngày và đang bóp nghẹt sự đi lên của cuộc sống văn minh hiện đại, lại không hề dễ dàng, không thể một sớm một chiều, một cá nhân riêng lẻ. Mỗi trang viết của Tạ Duy Anh da diết cảm giác của những hồi ức đau đáu, nhức nhối, những “vò xé" không ngừng. Và từ đó, khát vọng có thể bước qua những định kiến chật hẹp, trói buộc, “những cấm đoán phi lý và phi nhân tính được nhân danh những điều thiêng liêng”, có thể “bước qua lời nguyền”[47,tr. Nếu như nhân vật của Nam Cao được lý giải như là sản phẩm của thời đại, của hoàn cảnh xã hội thì với Tạ Duy Anh, nhà văn lý giải cuộc đời nhân vật là những điều trái khoáy, là trò đùa của số phận mà còn có lúc không nằm cùng chiều với lịch sử cộng đồng.
Đây là cái nhìn vượt lên trên lịch sử, dùng lịch sử để phán xét chính nó, dùng lịch sử để biện minh cho số phận và bản chất con người, và từ đó nhà văn có cái nhìn về bản chất người đúng đắn hơn. Sự đưa đẩy của lịch sử khiến cho từ Chánh Tổng đến lão Tạ Khổ đều phải cay đắng mà cam phận, nhắm mắt mà buông xuôi theo quy luật “sông có khúc, người có lúc”. Xét đến cùng thì họ cũng chỉ là con người bé nhỏ, là con rối 20 của con Tạo, bị nhào nặn bởi lịch sử và trở thành nạn nhân của lịch sử chứ không phải là người tạo ra lịch sử. Cái oái oăm nhất là lịch sử cũng tỏ ra vô nghĩa với chính nó.
Lịch sử chỉ là sự đổi ngôi, là sự thay đổi hình thái xã hội chứ không triệt tiêu được cái xấu. Lão Khổ bị kẹt giữa hai thể chế. Những tàn dư của thể chế cũ chưa hoàn toàn bị thay thế, vẫn mang nặng những tư tưởng, định kiến cũ nát, lỗi thời. Thể chế của thời sau là một mô hình thử nghiệm ở giai đoạn đầu của thời kì “mở cửa” còn đầy rẫy những tiêu cực mà lão chưa được trang bị kiến thức để hiểu và để biết “lựa” theo chiều.
“Lão long đong vì không biết nói dối” [2, tr.177], lão cứ sống hồn nhiên với nhân cách, chân lý của riêng mình và tất yếu cuộc đời đen bạc không thể chấp nhận một nhân cách như thế. Lão Khổ vừa là nạn nhân của thời cuộc, vừa là nạn nhân của chính mình. Chính vì thế, lão bị bật ra khỏi guồng máy. Đem thân ra làm bệ phóng cho thời đại mới, lão sẽ phải chấp nhận cuộc chơi.
Những nhân vật như lão Khổ, hoặc mang bóng dáng của lão Khổ hiện diện khá phổ biến trong sáng tác của Tạ Duy Anh, bởi lẽ đó là biểu trưng của thời đại, của lịch sử, của số phận trong sự cảm nhận của Tạ Duy Anh về cõi đời. Lịch sử bi đát ở chỗ là tự nó lấy mình ra để thể nghiệm. Từ quan niệm của mình, Tạ Duy Anh để cho nhân vật tự nhận thức lại hiện thực lịch sử là nhà văn đã có một cách nhìn thẳng thắn, không khoan nhượng với tất cả những sai lầm, những mặt trái, mặt tiêu cực. Tuy nhiên, nhà văn luôn đặt tất cả nhân vật của mình trong mối quan hệ với lịch sử, thời đại để xem xét, đánh giá và có xu hướng cắt nghĩa, lý giải khách quan mọi sai lầm đã qua thuộc về những hạn chế không thể tránh khỏi của lịch sử.
Chính nhờ thế, các nhân vật của Tạ Duy Anh khi đã trải qua hết thăng trầm, biến cố của một đời thường có được sự bình tâm, chiêm nghiệm, nhìn nhận lại tất cả. 21 Điều độc giả nhận được từ tác phẩm của Tạ Duy Anh, do vậy là những chiêm nghiệm sâu xa, thấm thía, đậm tính nhân văn về cuộc đời và thời cuộc.