Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Lý luận văn học (mã số 62 22 01 20) của nghiên cứu sinh Phạm Thị Thu Loan, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Hữu Sơn, có đề tài: "Tiếp nhận văn học Phật giáo Lý – Trần".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Văn học Phật giáo (VHPG) thời Lý – Trần là một bộ phận đặc biệt của văn học dân tộc trung đại, kết tinh các giá trị tư tưởng và thẩm mỹ trong lịch sử. Tuy nhiên, việc nghiên cứu mảng văn học này từ góc độ lý thuyết tiếp nhận văn học vẫn là một hướng đi mới mẻ và thiết thực. Khoảng trống nghiên cứu thể hiện ở việc các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận tác phẩm dưới góc độ văn học sử, văn bản học hoặc tư tưởng triết học thuần túy, chưa đặt tiếp nhận VHPG Lý – Trần vào mối quan hệ biện chứng với hoạt động sáng tạo văn học. Đồng thời, trong thực tiễn xã hội và giáo dục, vẫn tồn tại khoảng cách giữa việc tìm hiểu triết thuyết với việc đưa các giá trị nhân văn của VHPG vào đời sống và nhà trường.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là cung cấp cái nhìn hệ thống về mảng VHPG Lý – Trần từ góc nhìn văn học sử, đồng thời khảo chứng các vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc truyền thông mảng văn học này tới độc giả đương đại.
Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định ba nhiệm vụ cụ thể:
- Khái quát lại những vấn đề cơ bản của lý thuyết tiếp nhận văn học từ quan niệm truyền thống phương Đông đến lý luận hiện đại phương Tây; giới thuyết các khái niệm về VHPG và VHPG Lý – Trần.
- Hệ thống hóa lịch sử phát triển và tiếp nhận của VHPG Lý – Trần, chỉ ra những đặc điểm cơ bản từ góc độ triết học Phật giáo Đại thừa và các phạm trù lý luận văn học (lịch sử tiếp nhận, bản chất hình tượng văn học, quan niệm văn học, thể tài, ngôn ngữ, thi pháp văn học trung đại, công chúng văn học).
- Đưa ra các định hướng thực tế về việc tiếp thu các ảnh hưởng tích cực của VHPG Lý – Trần trong công tác truyền thông, nghiên cứu và giảng dạy tại nhà trường phổ thông và đại học.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ mảng VHPG Lý – Trần xét trong sự thống nhất giữa tư duy sáng tạo của tác giả và sự tiếp nhận của các loại công chúng văn học; sự khác biệt về tầm đón nhận và khoảng cách thẩm mĩ của độc giả.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian và lịch sử tiếp nhận: Khảo sát các công trình và ý kiến tiếp nhận từ thời trung đại (thế kỷ X) cho đến thời điểm nghiên cứu (năm 2018).
- Về văn bản và nội dung: Các tác phẩm VHPG ra đời trong hai triều đại Lý và Trần (thế kỷ XI đến thế kỷ XIV), bao gồm các thể loại kệ, thơ Thiền, sấm vĩ, văn bia, minh chuông, ngữ lục, truyện ký, triết luận, phú Nôm.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu VHPG Lý – Trần qua các giai đoạn và tác giả tiêu biểu:
- Thời kỳ trung đại: Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục (1777, bản dịch của Lê Mạnh Liêu năm 1962) tại quyển 4 (Thiên chương) và quyển 9 (Thiền giật) đã sưu tầm, ghi chép hành trạng, ngữ lục của các thiền sư và tác phẩm VHPG từ các nguồn Kim thạch di văn, Việt âm thi tập, Trích diễm thi tập, Thiền uyển tập anh.
- Giai đoạn trước năm 1945: Thượng tọa Mật Thể với Việt Nam Phật giáo sử lược (1942) hệ thống lịch sử Phật giáo và trước tác thời Lý – Trần; Ngô Tất Tố với Văn học đời Lý và Văn học đời Trần (1942) phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ và chú giải các tác giả Phật giáo; Nguyễn Đổng Chi với bản thảo Việt Nam cổ văn học sử.
- Giai đoạn sau năm 1945:
- Lê Văn Siêu trong Văn học sử Việt Nam (1956) khảo sát văn học thời Lý, cấu tứ, giọng điệu và tình cảm thơ ca thời Lý.
- Nguyễn Đăng Thục với Thiền học Việt Nam (1966) nghiên cứu tư tưởng Tam giáo đồng nguyên và triết lý nghệ thuật của thiền sư.
- Thích Thanh Từ từ năm 1972 công bố hàng loạt công trình giảng giải: Thiền sư Việt Nam giảng giải, Tam tổ Trúc Lâm giảng giải, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục giảng giải, Khóa hư lục giảng giải, Tham đồ hiển quyết và thi tụng các thiền sư đời Lý giảng giải (1997).
- Nguyễn Lang với Việt Nam Phật giáo sử luận (1973) phân tích toàn diện Thiền uyển tập anh, Phật giáo thời Lý và thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thời Trần.
- Nhóm nghiên cứu Viện Văn học do Nguyễn Huệ Chi chủ biên xuất bản bộ tuyển tập Thơ văn Lý – Trần (3 tập, từ 1977), xác lập văn bản, chú thích và vận dụng phương pháp loại hình văn học.
- Nguyễn Phạm Hùng với chuyên luận Thơ Thiền Việt Nam - những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật (1998) nghiên cứu thể loại và khuynh hướng văn học.
- Lê Mạnh Thát với Tổng tập VHPG Việt Nam (từ 1976), Nghiên cứu Thiền uyển tập anh, Toàn tập Trần Thái Tông, Toàn tập Trần Nhân Tông, và bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam (3 tập, 2000) chia lịch sử Phật giáo thành 5 thời kỳ (thời Lý thuộc Phật giáo thế sự, thời Trần thuộc Phật giáo cư trần lạc đạo).
- Đoàn Thị Thu Vân với luận án Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ thiền Việt Nam thế kỷ XI - thế kỷ XIV và công trình Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam thời sơ kì trung đại.
- Nguyễn Công Lý với Văn học Phật giáo thời Lý - Trần - Diện mạo và đặc điểm khảo sát diện mạo thể loại và 6 đặc điểm nội dung nghệ thuật.
- Thích Phước Đạt với Giá trị văn học trong tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm (2013).
- Trần Trọng Dương với các nghiên cứu về văn bia, chữ Nôm và thể phú Nôm thời Trần (Sự thay đổi hệ hình văn học: trường hợp phú Nôm Phật giáo dòng Trúc Lâm Yên Tử).
Tác giả luận án phân chia các công trình đi trước thành bốn nhóm chính: (1) Nhóm lý luận về loại hình và thể loại; (2) Nhóm khảo sát, bình luận tổng quát, xây dựng giáo trình; (3) Nhóm nghiên cứu theo hệ vấn đề (tác giả, chủ đề, khuynh hướng); (4) Nhóm bài viết khảo cứu tác giả, tác phẩm cụ thể (Quốc tộ, Cáo tật thị chúng, Ngôn hoài, Thiên Trường vãn vọng).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chưa giải quyết trọn vẹn vấn đề chuẩn mực văn học của tác phẩm VHPG Lý – Trần, chưa xác định rõ ranh giới thẩm mĩ đặc thù của VHPG so với văn học trung đại nói chung. Đồng thời, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện sự phân hóa tầm đón nhận của các nhóm công chúng và chưa đưa ra hệ thống giải pháp sư phạm chuyên biệt để giảng dạy mảng văn học này trong nhà trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết phân loại lý luận văn học phương Tây: Vận dụng sơ đồ phân loại của Meyer Howard Abrams (The Mirror and the Lamp, 1953) chia lý luận thành bốn nhóm: Mimetic (mô phỏng), Expressive (biểu hiện), Objective/Formal (khách quan/hình thức) và Pragmatic (thực dụng - nghiên cứu tác động của tác phẩm đến độc giả).
- Mĩ học tiếp nhận trường phái Konstanz: Vận dụng các luận điểm của Hans Robert Jauss về lịch sử văn học như sự thách thức của khoa học văn học, các khái niệm công chúng, tầm đón đợi, kinh nghiệm thẩm mĩ, khoảng cách thẩm mĩ. Tiếp thu quan điểm của Felix V. Vodicka về bốn nhiệm vụ của lịch sử tiếp nhận văn học (phục dựng chuẩn mực văn học, phục dựng diện mạo văn học một thời kỳ, nghiên cứu sự cụ thể hóa tác phẩm, nghiên cứu phạm vi tác động).
- Quan niệm tiếp nhận phương Đông truyền thống: Khái niệm "tri âm" và "kí thác" từ Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp.
- Quan điểm Mác-xít và lý luận văn học Việt Nam: Tiếp thu các luận điểm của Phương Lựu, Trần Đình Sử, Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Văn Dân, Hoàng Trinh về tính biện chứng giữa sáng tạo và tiếp nhận, khẳng định tác phẩm sau khi hoàn thành là một tồn tại vật chất độc lập mang tính xã hội - lịch sử.
- Giới thuyết khái niệm VHPG: Luận án định nghĩa VHPG là phương thức văn học được tôn giáo hóa, sử dụng ngôn ngữ và hình tượng như một phương tiện để thể hiện giáo lý, phụng sự mục đích truyền đạo và giải thoát (theo Giới - Định - Tuệ), phân biệt với văn học thông thường vốn lấy hình tượng ngôn từ làm cứu cánh tự thân.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và liên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Xem xét quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của VHPG Lý – Trần trong tiến trình lịch sử tiếp nhận từ thế kỷ X đến nay.
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp triết học Phật giáo, tôn giáo học, mĩ học, xã hội học, văn hóa học, nghiên cứu so sánh và thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp tiếp cận từ lý thuyết tiếp nhận: Phân tích sự tương tác giữa văn bản và người đọc, tầm đón đợi, khoảng cách thẩm mĩ qua các thời kỳ.
- Các thao tác bổ trợ: Thống kê, phân loại văn bản, khảo sát đối chiếu văn bản Hán - Nôm và bản dịch.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn ngữ liệu chính bao gồm: Thiền uyển tập anh, Thánh đăng thực lục, Tam tổ thực lục, Khóa hư lục, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, Tham đồ hiển quyết, bộ tuyển tập Thơ văn Lý – Trần (3 tập), cùng hệ thống văn bia, minh chuông thời Lý – Trần.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về tiếp nhận văn học và giới thuyết về VHPG Lý – Trần. Luận án phân tích sự hình thành của lý thuyết tiếp nhận từ trường phái Konstanz (Hans Robert Jauss), đồng thời đối thoại với các quan điểm lý luận tại Việt Nam (Trần Đình Sử, Phương Lựu, Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Dương Côn). Tác giả xác định tiếp nhận không thay thế hoàn toàn vai trò của tác giả và sáng tạo, mà nằm trong mối quan hệ biện chứng hai chiều: sáng tạo là tiền đề, tiếp nhận là sự cụ thể hóa và làm sống dậy các giá trị của văn bản.
Luận án khẳng định thời đại Lý – Trần là giai đoạn phát triển đỉnh cao của VHPG Việt Nam trung đại nhờ sự kết hợp giữa ngôn ngữ thành văn dân tộc và giáo lý Phật giáo Đại thừa. VHPG giai đoạn này mang bốn đặc điểm nổi bật:
- Gắn bó chặt chẽ với lịch sử dựng nước và giữ nước, mang tính nhập thế sâu sắc.
- Đạt đến đỉnh cao về tư tưởng triết học Thiền tông và ngôn ngữ nghệ thuật chữ Hán, chữ Nôm.
- Là cội nguồn khơi mở dòng chảy văn học viết dân tộc và cảm hứng nhân văn trung đại.
- Có sự vận động nội tại từ thời Lý (thiên về nhận thức chân lý, minh họa giáo lý) sang thời Trần (đậm đà tính chất văn học, cảm quan thế sự).
Về số lượng văn bản, luận án dẫn số liệu thống kê của Nguyễn Công Lý về 471 tác phẩm VHPG Lý – Trần còn lưu lại:
| Thể loại tác phẩm |
Số lượng |
Tỷ lệ (%) |
| Kệ, thơ Thiền |
405 |
85,99% |
| Văn bia, minh chuông |
16 |
3,40% |
| Sấm vĩ |
13 |
2,76% |
| Luận thuyết tôn giáo |
10 |
2,12% |
| Ngữ lục |
7 |
1,49% |
| Truyện ký |
6 |
1,27% |
| Ca ngâm |
4 |
0,85% |
| Bài phú |
3 |
0,64% |
| Tụng cổ |
2 |
0,42% |
| Từ khúc |
1 |
0,21% |
| Tổng cộng |
471 |
100,00% |
CHƯƠNG 2: TIẾP NHẬN VHPG LÝ - TRẦN TỪ GÓC ĐỘ NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ VĂN HỌC
Chương 2 phân tích tiến trình tiếp nhận VHPG Lý – Trần qua các giai đoạn lịch sử văn học (trước năm 1945 và từ sau năm 1945 đến nay), đồng thời tổng kết 5 xu hướng nghiên cứu chính:
- Xu hướng phân kỳ lịch sử văn học: Đặt VHPG Lý – Trần vào các giai đoạn lịch sử Phật giáo và lịch sử văn học dân tộc (tiêu biểu là cách phân kỳ của Lê Mạnh Thát, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Lang).
- Xu hướng khảo luận văn bản: Công tác sưu tầm, phiên âm, dịch nghĩa, hiệu đính và xác lập văn bản tác phẩm từ các nguồn văn bia và thư tịch cổ (Ngô Tất Tố, Viện Văn học, Lê Mạnh Thát).
- Xu hướng nghiên cứu nội dung tư tưởng: Khai thác các khía cạnh triết học Thiền tông, tinh thần Tam giáo đồng nguyên, cảm hứng yêu nước và tinh thần nhân đạo (Nguyễn Đăng Thục, Thích Thanh Từ, Thích Phước Đạt).
- Xu hướng nghiên cứu thể loại và phân tích văn bản học: Phân loại tác phẩm theo các thể tài văn học chức năng, thơ Thiền, ngữ lục, phú Nôm (Nguyễn Phạm Hùng, Đoàn Thị Thu Vân).
- Xu hướng nghiên cứu liên ngành: Kết hợp văn học với sử học, tôn giáo học, văn hóa học và mĩ học dân tộc.
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ CÔNG CHÚNG TRONG VIỆC TIẾP NHẬN VHPG LÝ - TRẦN
Chương 3 đi sâu phân tích đối tượng tiếp nhận qua việc phân loại 4 nhóm công chúng văn học với các tầm đón đợi khác nhau:
- Giới tu hành: Lớp công chúng trực tiếp, tiếp nhận tác phẩm như phương tiện tu chứng, trao truyền tâm ấn và hành trì giáo lý.
- Quần chúng nhân dân lao động: Tiếp nhận VHPG qua khía cạnh tín ngưỡng dân gian, luật nhân quả, hướng thiện và cầu an.
- Giới nghiên cứu và văn nghệ sĩ: Tiếp nhận tác phẩm như đối tượng thẩm mĩ và học thuật, giải mã các giá trị thi pháp, tư tưởng và ngôn từ nghệ thuật.
- Giáo viên và người học trong nhà trường: Tiếp nhận theo chương trình giáo dục quy chuẩn, chịu sự định hướng của sách giáo khoa và mục tiêu sư phạm.
Chương này cũng phân tích các khoảng cách thẩm mĩ mang tính thời đại và dân tộc giữa người đọc đương đại với văn bản thời trung đại, chỉ ra sự dịch chuyển từ tư duy trực cảm tâm linh sang tư duy duy lý hiện đại.
CHƯƠNG 4: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN TRONG TIẾP NHẬN VHPG LÝ - TRẦN
Chương 4 giải quyết hai nội dung cốt lõi:
- Về mặt lý thuyết: Xác lập chuẩn mực văn học của VHPG Lý – Trần. Tác giả VHPG vừa là người sáng tạo vừa là "công chúng văn học đặc biệt" mang trải nghiệm tu chứng. Mối quan hệ giữa tác giả và độc giả VHPG chủ yếu vận hành theo cơ chế "tri âm" (đồng cảm tâm linh) và "kí thác" (gửi gắm tâm nguyện giải thoát và nhân sinh).
- Về mặt thực tiễn: Khảo sát thực trạng dạy học tác phẩm VHPG trong môn Ngữ văn hiện nay; chỉ ra hiện tượng giản đơn hóa tác phẩm VHPG thành thơ văn yêu nước thuần túy hoặc né tránh yếu tố tôn giáo. Từ đó, luận án đề xuất các giải pháp đổi mới phương pháp nghiên cứu và giảng dạy VHPG Lý – Trần trong nhà trường.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Vận dụng lý thuyết tiếp nhận văn học để nghiên cứu có hệ thống một bộ phận văn học quá khứ cụ thể là VHPG Lý – Trần, xác lập mô hình nghiên cứu kết hợp giữa thi pháp học trung đại, triết học Phật giáo và mĩ học tiếp nhận.
- Làm rõ bản chất của VHPG là văn học chức năng tôn giáo, phân biệt ranh giới giữa tác phẩm VHPG và tác phẩm văn học thế sự thông thường.
- Phân định rõ cấu trúc công chúng tiếp nhận VHPG thành 4 nhóm với tầm đón đợi và ngưỡng tiếp nhận riêng biệt.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Hệ thống hóa tư liệu nghiên cứu VHPG Lý – Trần từ thời trung đại đến nay, tạo nguồn thư mục tra cứu có giá trị khoa học.
- Đề xuất các giải pháp đổi mới giảng dạy VHPG trong nhà trường:
- Tiếp cận tác phẩm VHPG theo đúng đặc trưng thể loại và bối cảnh văn hóa - tôn giáo thời đại Lý – Trần, không quy giản tác phẩm Thiền học về thơ ca chính trị - xã hội đơn thuần.
- Xây dựng hệ thống chú giải văn bản chuẩn xác, kết hợp giải nghĩa thuật ngữ Phật học với phân tích giá trị thẩm mĩ ngôn từ.
- Tăng cường phương pháp dạy học gợi mở, giúp người học nhận thức được giá trị nhân văn, hướng thiện và sự bình an tâm hồn từ di sản VHPG.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do nguồn tư liệu thư tịch thời Lý – Trần bị thất lạc nhiều qua chiến tranh và biến thiên lịch sử, việc tái hiện chi tiết tầm đón đợi của lớp công chúng đầu tiên (đương thời thế kỷ XI – XIV) chủ yếu dựa vào các ghi chép gián tiếp trong văn bia và ngữ lục cổ, thiếu các tài liệu phê bình độc lập cùng thời.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án mở ra hướng nghiên cứu so sánh sự tiếp nhận VHPG Việt Nam với VHPG các nước trong khu vực Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên); đồng thời mở rộng khảo sát thực nghiệm việc giảng dạy VHPG trong chương trình giáo dục phổ thông mới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Thuộc các chuyên ngành Lý luận văn học, Văn học Việt Nam, Hán Nôm, Lịch sử tư tưởng và Phật học. Các chương 1, 2 và 4 cung cấp khung lý thuyết tiếp nhận và tổng thuật lịch sử nghiên cứu toàn diện.
- Giảng viên đại học và giáo viên Ngữ văn: Tham khảo chương 3 và chương 4 để đổi mới phương pháp phân tích, giảng dạy các tác phẩm VHPG Lý – Trần trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông và đại học.
- Nhà biên soạn chương trình và sách giáo khoa: Tham khảo các đề xuất về chuẩn mực thẩm mĩ và giải pháp chú giải văn bản VHPG.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa văn học Phật giáo (VHPG) như thế nào?
Luận án xác định VHPG là phương thức văn học được tôn giáo hóa, trong đó hình ảnh, ngôn ngữ và hình tượng nghệ thuật trước hết là công cụ, phương tiện phục vụ việc miêu tả đời sống tôn giáo, truyền bá giáo lý và hướng dẫn sự thâu nhiếp thân tâm (theo Giới, Định, Tuệ), khác với tác phẩm văn học thông thường vốn xem hình tượng ngôn từ là cứu cánh nghệ thuật tự thân.
2. Số lượng tác phẩm VHPG Lý – Trần còn lưu lại được thống kê ra sao?
Theo số liệu của Nguyễn Công Lý được luận án dẫn dụng, có tổng cộng 471 tác phẩm VHPG Lý – Trần còn lại, trong đó chiếm tuyệt đại đa số là kệ và thơ Thiền (405 tác phẩm, chiếm 85,99%), phần còn lại gồm sấm vĩ (13), minh và văn bia (16), luận thuyết tôn giáo (10), ngữ lục (7), truyện ký (6), ca ngâm (4), bài phú (3), tụng cổ (2) và từ khúc (1).
3. Công chúng tiếp nhận VHPG Lý – Trần được chia thành những nhóm nào?
Luận án phân chia công chúng tiếp nhận thành 4 nhóm với tầm đón đợi khác nhau: (1) Giới tu hành (công chúng trực tiếp tiếp nhận để tu tập); (2) Quần chúng nhân dân lao động (tiếp nhận qua tín ngưỡng, cầu an); (3) Giới nghiên cứu và văn nghệ sĩ (tiếp nhận thẩm mĩ và học thuật); (4) Giáo viên và người học trong nhà trường (tiếp nhận theo định hướng sư phạm).
4. Luận án chỉ ra điểm khác biệt cơ bản giữa VHPG thời Lý và VHPG thời Trần là gì?
Luận án chỉ ra sự vận động nội tại: thơ văn Phật giáo thời Lý thiên về nhận thức chân lý, minh họa giáo lý Thiền tông với vẻ đẹp minh triết trí tuệ; trong khi thơ văn Phật giáo thời Trần mang đậm tính chất văn học, biểu hiện cảm quan thế sự nhập thế ("cư trần lạc đạo") và vẻ đẹp mẫn cảm tâm linh.
Kết luận
Luận án "Tiếp nhận văn học Phật giáo Lý – Trần" của tác giả Phạm Thị Thu Loan là công trình nghiên cứu chuyên sâu về di sản VHPG thời Lý – Trần dưới lăng kính lý thuyết tiếp nhận văn học. Tác giả đã hệ thống hóa lịch sử tiếp nhận văn học từ thời trung đại đến nay, làm rõ bản chất chuẩn mực của VHPG và phân tích sự phân hóa tầm đón đợi của các nhóm công chúng. Công trình kết hợp hài hòa giữa cơ sở lý thuyết hiện đại, quan niệm tiếp nhận truyền thống và thực tiễn nghiên cứu - giảng dạy, đóng góp các giải pháp cụ thể nhằm đưa các giá trị của VHPG Lý – Trần vào đời sống học thuật và giáo dục đương đại.