Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC Vùng nghiên cứu trải dài từ 11 o00’ đến 16 o00’ vĩ độ bắc và từ 107 o30’ đến 110 o00’ kinh độ đông là lãnh hải của các tỉnh Nam Trung bộ từ Quảng Nam đến Bình Thuận (hình 1. Độ sâu vùng thềm lục địa nghiên cứu từ 0m nước đến khoảng 100m nước ở phần phía nam (hình 1.4), đến 150m nước ở phần phía bắc (hình 1.2) và sâu nhất là khoảng 200m nước ở phần trung tâm (hình 1.Địa tầng trước Đệ tứ GIỚI ARKEI Hệ tầng Kim Sơn (AR ks) Nguyễn Xuân Bao, Trần Tất Thắng, 1979. Hệ tầng Kim Sơn thuộc loạt Kannack (loạt đá biến chất cổ nhất Việt Nam, thuộc đới Kon Tum). Trong vùng Nam Trung Bộ, hệ tầng Kim Sơn phân bố dọc ven biển và dưới đáy biển ven bờ từ Sa Huỳnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi đến Hoài Nhơn, Bình Định [1].
Mặt cắt của hệ tầng gồm 2 phần: - Phần dưới gồm đá phiến thạch anh biotit silimanit, plagiogneis và gneis biotit granat có tàn dư pyroxen. - Phần trên gồm đá phiến thạch anh biotit silimanit, đá phiến thạch anh biotit silimanit bị mylonit hoá, phiến hoá thành đá phiến thạch anh sericit fibrolit có tàn dư biotit silimanit và thạch anh hạt lớn có kiến trúc vi biến tinh. Tổng chiều dày 1900m. Tuổi của hệ tầng dựa trên kết quả phân tích tuổi đồng vị là 1200-1800 triệu năm và dựa trên sự so sánh với các khu vực khác trên thế giới như Shan Thai, Aldan, Ấn Độ.
GIỚI PALEOZOI Hệ tầng A Vương ( 2 - O1 av) Nguyễn Xuân Bao và nnk, 1978. Ở ven bờ các thành tạo hệ tầng này phân bố từ Tam Hải đến Tam Quang, Núi Thành, Quảng Nam. Dưới đáy biển ven bờ (0-15m nước) hệ tầng phân bố từ nam Cửa Đại (Hội An) đến bắc Chu Lai, được phát hiện qua các băng địa chấn nông độ phân dải cao [1]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đường v ẽ mặt cắt địa hình Hình 1.
Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mặt cắt địa hình đáy biển theo đường AA’ Hình 1. Mặt cắt địa hình đáy biển theo đường BB’ Hình 1. Mặt cắt địa hình đáy biển theo đường CC’ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặt cắt hệ tầng A Vương có thể chia làm 2 phần, ở khu vực ven biển chỉ thấy có mặt phần trên, quan sát được ở khu vực mũi An Hoà gồm đá phiến sericit thạch anh, đá phiến thạch anh hai mica, đá phiến thạch anh biotit xen lớp mỏng quarzit, đá phiến silic, phiến carbonat sericit với tổng chiều dày 900m.
Tuổi của Hệ tầng được xác định nhờ vào hoá thạch Graptolit ở các vùng lân cận. GIỚI MESOZOI Hệ tầng La Ngà (J2 ln) Vũ Khúc và nnk, 1983. Phân bố tập trung ở dải ven bờ và dưới đáy biển từ vụng Hòn Khói đến đầm Nha Phu thuộc huyện Ninh Hoà, Khánh Hoà [1]. Thành phần mặt cắt gồm: sét kết màu đen phân lớp mỏng, sét kết màu đen xen bột kết màu xám phân dải, cát kết, bột kết xen kẽ dạng nhịp.
Phần trên có chứa Cúc đá và chứa nhiều di tích thực vật nhưng bảo tồn kém. Hệ tầng Nha Trang (K nt) Belouxov A. P, Nguyễn Đức Thắng và nnk, 1983. Hệ tầng Nha Trang có diện lộ phổ biến nhất ở ven biển và biển ven bờ vùng nghiên cứu.
Có thể bắt gặp từ mũi Bình An (Tuy Phước, Bình Định) đến Phú Hài (Phan Thiết) [1]. Mặt cắt của hệ tầng chia làm 2 phần: - Phần dưới là andesit, tuf andesit, đôi nơi có dăm kết tuf, thành phần trung tính, cấu tạo khối hoặc dòng chảy. - Phần trên là dacit, ryodacit, ryolit, trachytryolit và tuf của chúng, màu xám sáng, xám nâu, cấu tạo dòng chảy, dạng ignimbrit hay dạng khối đặc sít. Tổng chiều dày của hệ tầng 600m.
Tuổi của hệ tầng dựa vào sự phủ không chỉnh hợp lên hệ tầng La Ngà (J2 ln). GIỚI KAINOZOI Các thành tạo Kainozoi phát triển khá rộng ở vùng ven biển và biển Nam Trung bộ. Trên các đồng bằng ven biển chỉ gặp các thành tạo Neogen - Đệ tứ. Trong thềm lục địa vùng nghiên cứu, các thành tạo Kainozoi phát triển kéo dài từ phần phía nam bể Sông Hồng đến phần đông bắc bể Cửu Long.
Tuy nhiên các trầm tích có tuổi 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ Paleogen đến Neogen (Đệ tam) đều bị phủ bởi trầm tích Đệ tứ, chỉ phát hiện được qua các băng địa chấn dầu khí, địa chấn nông độ phân dải cao và qua các lỗ khoan tìm kiếm, thăm dò dầu khí. mài tròn TËp ®Þa chÊn §íi T¶o v«I KV vôn (%) §é s©u (m) B§ thø sinh M«I trêng Th¹ch häc läc §íi VCS §Æc ®iÓm trÇm tÝch Xi m¨ng H Ö tÇng lọc, Tªn ®¸ KV sÐt Chän Tuæi Chọn 100 Chñ yÕu kho¸ng vËt sÐt biÓ n ®«ng Plioxen SÐt x¸m s¸ng ®Õn x¸m xanh, ®«i BiÓn s©u chç chøa bét, nhiÒu ho¸ ®¸ biÓn, H-qn1 pirit. Ýt c¸t bë rêi, x¸m tèi, x¸m 500 xanh h¹t nhá nhiÒu gloconit. 790 illit, kaolinit, líp hçn hîp Mioxen muén qu¶ng ng·i BiÓn n«ng ®Õn biÓn s©u 1000 C¸c líp sÐt, sÐt chøa bét xen bét NN9-NN11 kÕt x¸m lôc, x¸m s¸ng mÒm, Diagenes ph©n líp máng -trung b×nh, chøa H-qn2 cacbonat, pirit, nhiÒu gloconit, 1454 §¸ v«i grainston, packston, Packston, Grainston, vµ mudston, tr¾ng, x¸m nh¹t ®Õn Mioxen gi÷a Lepidocyclina x¸m n©u, cøng, phong phó c¸c mudston tri t«n Tf2-Tf1 N N8 H-qn3 lo¹i ho¸ ®¸ biÓn.
Katagenes sím BiÓn n«ng 2000 2165 Chñ yÕu dolomit h¹t nhá, x¸m sh H-QN4 Dolomit tro, x¸m n©u, ®é rrçng tèt 2269 2269 ®ång b»ng ch©u thæ Illit, kaolinit , clorit , C¸t kÕt ph©n líp dµy (10- Feld. litharenit b¹ ch trÜ Katagenes sím C¸cbonat, sÐt, H-qn5 chän läc tèt Oligoxen líp hçn hîp 15m)®Õn d¹ng khèi, g¾n kÕt yÕu Mµi trßn, aluvial- xen kÑp bét kÕt, sÐt kÕt, (3-5m) chøa nhiÒu vôn thùc vËt, vµ Ýt líp TD: 2473m than Hình 1. Cột địa tầng tổng hợp giếng khoan 119-CH-1X (nguồn [20]) Hệ Paleogen Thống Oligocen Các thành tạo Oligocen bắt gặp trong các giếng khoan 118-CVX-1X và 119- CH-1X ở phía bắc vùng nghiên cứu (phía Nam bể Sông Hồng) với tên gọi là hệ tầng Bạch Trĩ (E3 bt) (hình 1.5) và các giếng khoan 01-RUBY-1X và 02-SAPPHIRE-1X ở phía Nam vùng nghiên cứu (phía Đông Bắc bể Cửu Long) với tên gọi hệ tầng Trà 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phần trung tâm vùng nghiên cứu phát hiện qua các băng địa chấn với độ phản xạ liên tục kém, biên độ trung bình, tần số thấp, có nơi phản xạ dạng lộn xộn, biên độ cao.
Phần phía Bắc vùng nghiên cứu, các thành tạo này được gọi là hệ tầng Bạch Trĩ (E3 bt) với mặt cắt chuẩn trong giếng khoan Bạch Trĩ (K.112-BT) thuộc địa hào Huế. Trong vùng nghiên cứu gặp những lớp đá lục nguyên tương đối dày (>200 m) chủ yếu gồm cát kết hạt vừa, thô đến rất thô hoặc đôi khi gặp sạn và cuội kết xen ít lớp sét bột kết và các vỉa than nâu (giếng khoan 118-CVX-1X). Trong cát kết, hạt vụn thường bán góc cạnh đến bán tròn cạnh, độ chọn lọc và mài tròn kém đến trung bình, gắn kết chắc bằng xi măng sét. Bề dày của hệ tầng thay đổi trong khoảng 100- 300 m [33].
Tuổi Oligocen của hệ tầng được xác định dựa vào sự xuất hiện cuối cùng của Cicatricosisporites dorogensis, Lycopodiumsporites neogenicus, Verrutricolporites pachydermus, Gothanipolis và theo sự xuất hiện đầu tiên của Florschuetzia trilobata. Hệ tầng Bạch Trĩ được thành tạo trong môi trường đầm hồ - vũng vịnh, giàu vật chất hữu cơ có khả năng sinh dầu khí. Nó nằm không chỉnh hợp trên đá móng dolomit Devon, quan sát thấy ở giếng khoan Bạch Trĩ. Phần trung tâm vùng nghiên cứu, các trầm tích Oligoxen bao gồm các trầm tích mịn hơn gồm cát, sét, ít lớp than và tập cuội sạn.
Trên mặt cắt địa chấn trầm tích này được xếp vào tập Oligoxen. Sóng phản xạ có độ liên tục kém, biên độ trung bình, tần số thấp, có nơi phản xạ dạng gò đồi. Môi trường trầm tích chủ yếu là đầm hồ, châu thổ và đôi chỗ ven biển. Phần phía nam vùng nghiên cứu, trong các giếng khoan thuộc hoặc lân cận vùng nghiên cứu (01-Ag-1X, 01-RUBY-1X), chỉ phát hiện được trầm tích Oligocen giữa – muộn với tên gọi là hệ tầng Trà Tân (E32-3 tt) phủ không chỉnh hợp trên móng granit phong hóa nứt nẻ [6, 33].
Thành phần trầm tích chủ yếu là sét kết giàu vật chất hữu cơ và các tàn tích thực vật thuộc tướng đầm hồ, đầm lầy vũng vịnh chịu ảnh hưởng của biển ở các mức độ khác nhau. Bề dày tại giếng khoan 01-RUBY-1X là 504m. Trên mặt cắt địa chấn, hệ tầng đặc trưng bằng tập địa chấn mà phần dưới là những vùng phản xạ gần như trắng, biên độ thấp với tần số trung bình đến cao, còn ở phía trên phản xạ có biên độ liên tục tốt, tần số trung bình, biên độ khá, phân lớp tốt. Tuổi Oligocen giữa - muộn của hệ tầng Trà Tân được xác định theo bào tử phấn hoa: Cicatricosisporites, Verrutricolporites pachydermus và Florschuetzia trilobata.
Đặc biệt hệ tầng chứa nhiều vật liệu hữu cơ dạng sapropel vô định hình, hình thành trong điều kiện hồ không có oxy. Morley xếp vào "tướng sapropel" trong khi phân tích các giếng khoan trên lô 15. Ngoài ra còn gặp nhiều Tảo nước ngọt như Pediastrum,sp. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hệ Neogen Thống Miocen Phụ thống Miocen dưới Phía bắc vùng nghiên cứu các thành tạo Miocen dưới được xếp vào hệ tầng Sông Hương.
Chúng phân bố khá rộng rãi trong địa hào Quảng Ngãi. Hệ tầng chủ yếu gồm sét bột kết màu xám, xám sáng, xám nâu cứng chắc chứa vôi, vụn than nâu và đôi khi vỏ trùng lỗ, xen các lớp cát kết rất mỏng, màu xám sáng; đặc biệt thỉnh thoảng có xen kẽ các lớp kẹp đá vôi, nhất là ở phần trên của mặt cắt. Còn trên địa luỹ Tri Tôn, hệ tầng gồm chủ yếu là đá vôi và dolomit (GK. Đá có màu xám nhạt, xám xanh và rắn chắc, thường liên quan đến các trầm tích thềm biển, nhưng rất ít di tích sinh vật, tỷ lệ dolomit tăng dần theo chiều sâu.
Bề dày của hệ tầng Sông Hương theo tài liệu khoan thay đổi từ 100 đến 1230 m, còn theo tài liệu địa chấn có thể dày hơn. Tập địa chấn tương ứng với hệ tầng Sông Hương gồm các lớp phản xạ khá đều, song độ liên tục giảm, đôi chỗ có phản xạ mang đặc trưng của trầm tích đồng bằng ven biển xen các vỉa than, còn các phản xạ liên quan đến đá vôi và dolomit thường không liên tục và trắng. Hệ tầng nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Bạch Trĩ.