Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ vật lý với đề tài "Nghiên cứu cấu trúc kiến tạo khu vực thềm lục địa Bắc Miền Trung Việt Nam trên cơ sở xử lý, phân tích minh giải tổng hợp tài liệu địa vật lý", chuyên ngành Vật lý địa cầu (mã số 62440111), do nghiên cứu sinh Trần Văn Khá thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Văn Vượng.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, vùng biển thềm lục địa Bắc Miền Trung và quần đảo Hoàng Sa có ý nghĩa quan trọng đối với việc khẳng định chủ quyền biển đảo theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Dù đã có nhiều cuộc khảo sát địa chất và địa vật lý từ thập niên 1950, nguồn tài liệu đo đạc cấu trúc sâu tại khu vực nghiên cứu, đặc biệt là vùng biển sâu Hoàng Sa và bể Phú Khánh, vẫn còn hạn chế. Các giếng khoan dầu khí chủ yếu chỉ khoan sâu một vài kilômét trong tầng trầm tích Kainozoi, chưa thể làm điểm tựa chắc chắn cho việc giải bài toán ngược trọng lực xác định ranh giới sâu. Về mặt phương pháp luận, việc áp dụng phương pháp gradient chuẩn hóa toàn phần (NFG) trước đây tại Việt Nam thường chọn hệ số hài Fourier cố định bằng hai phần ba số điểm đo ($N = 2/3 M$), vốn chỉ phù hợp trong một số ít trường hợp. Đồng thời, thuật toán gradient ngang cực đại (HGM) theo Blakely và Simpson (1986) bộc lộ hạn chế khi bỏ sót nhiều điểm cực đại biên cấu trúc. Thêm vào đó, các kết quả công bố trước đây về độ sâu bề mặt Moho có sự khác biệt lớn do thiếu các điểm tựa địa chấn sâu.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:
- Đề xuất cải tiến nhằm khắc phục hạn chế của một số phương pháp phân tích, xử lý tài liệu trường thế nhằm nâng cao khả năng áp dụng các phương pháp đó trong nghiên cứu cấu trúc sâu.
- Bổ sung thêm một số thông tin mới về cấu trúc địa chất vỏ Trái Đất nói chung, cấu trúc mặt Moho nói riêng khu vực thềm lục địa Bắc Miền Trung Việt Nam.
Luận án triển khai năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết, từ đó đề xuất cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của một số phương pháp phân tích và xử lý số liệu trường thế.
- Xây dựng hàm phân bố mật độ trung bình cho tầng trầm tích trên toàn khu vực nghiên cứu.
- Xác định hệ thống đứt gãy trên khu vực nghiên cứu theo tài liệu trọng lực.
- Xác định độ sâu tới bề mặt Moho trên cơ sở các tài liệu địa chấn bổ sung trên khu vực nghiên cứu.
- Phát hiện một số đặc điểm cấu trúc - kiến tạo khu vực thềm lục địa Bắc Miền Trung Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu là đặc điểm phân bố mật độ trầm tích Kainozoi, hệ thống đứt gãy và độ sâu bề mặt Moho khu vực thềm lục địa Bắc Miền Trung – Hoàng Sa.
Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm vùng thềm lục địa Bắc Miền Trung, phía Bắc chồng lên một phần bể Sông Hồng, phía Đông Bắc là bể Nam Hải Nam, phía Đông Hoàng Sa giáp trũng sâu Biển Đông, phía Nam là bể Phú Khánh và phía Tây giáp lục địa miền Trung. Về thời gian địa chất, nghiên cứu tập trung vào tầng trầm tích Kainozoi, móng trước Kainozoi và ranh giới vỏ - manti (mặt Moho) hiện đại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến khu vực khảo sát theo các hướng chuyên ngành:
Về địa vật lý trong nước, Bùi Công Quế và cộng sự (1985, 1995, 2001-2005, 2010) đã xây dựng các bản đồ dị thường trọng lực Free-air, Bouguer tỷ lệ 1:1.000.000 trong khuôn khổ đề tài cấp Nhà nước KC-09-02, phân tích đặc trưng trường địa vật lý và ranh giới vỏ Trái Đất. Hoàng Văn Vượng và Đỗ Chiến Thắng nghiên cứu minh giải tổng hợp tài liệu trọng lực - từ xác định móng trước Kainozoi và bề dày trầm tích. Đáng chú ý, các đợt đo đạc bằng tàu Gagarinsky (1990, 1992) hợp tác với Liên bang Nga và chiến dịch khảo sát năm 2009 do Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) chủ trì đã bổ sung hơn 6.000 km tuyến đo đồng bộ trọng lực, địa chấn và độ sâu đáy biển.
Về địa chất và kiến tạo, các công trình bản đồ địa chất tờ Huế tỷ lệ 1:50.000; nghiên cứu Đệ tứ của Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Đức Tâm, Đỗ Tuyết (1995); đề tài nghiên cứu biển nước sâu của Nguyễn Thế Tiệp (2006-2010); nghiên cứu địa tầng phân tập của Trần Nghi (2006-2010) đã cung cấp bình đồ tầng nông. Về phân vùng kiến tạo, các tác giả Hồ Đắc Hoài, Trần Lê Đông (1986); Lê Trọng Cán (1986); Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng (1990); Võ Năng Lạc (1996); Trần Ngọc Toản, Nguyễn Hồng Minh (1996); Lê Như Lai, Phùng Văn Phách (2001, 2002, 2006); Trần Hữu Thân, Ngọ Văn Hưng (2003); Nguyễn Văn Vượng, Trần Nghi (2008); Phùng Văn Phách, Phan Trọng Trịnh, Nguyễn Văn Hướng (2004, 2008, 2014) đã làm rõ các giai đoạn tách giãn, nghịch đảo kiến tạo và tai biến địa chất. Về địa hình - địa mạo đáy biển, các công trình của Nguyễn Thế Tiệp (1990, 1993, 1996, 2005, 2006), Phạm Khả Tùy, Vũ Văn Phái và Nguyễn Văn Tạc (1996) đã thiết lập các bản đồ địa mạo từ ven bờ đến vùng biển sâu.
Về phía các nghiên cứu quốc tế, chương trình NAGA (1959-1974) sử dụng tàu Stranger khảo sát ven bờ và thềm lục địa miền Trung; Saurin (1960) lấy mẫu trầm tích đáy đến độ sâu 497 m; Western Atlas (1974) khoan thăm dò dầu khí Bắc Trung Bộ - Hoàng Sa; các tàu khảo sát Sonne (Đức, các chuyến 115, 135, 141) khảo sát địa chấn nông và trầm tích Plioxen - hiện đại. Các công trình của Holloway (1982), Taylor và Hayes (1983, 1986), Kulinich và nnk (1986-1989, 1994), Brias, Patriat và Tapponnier (1993), Wu (1994), Xia và Huang (1994), Robert Hall (1996, 1997, 2002), Chun-Fen Li (2008), Harry Doust và Gerard Lijmbach (2007) đã phân tích cơ chế tách giãn rift hình thành biển rìa và bình đồ kiến tạo mảng Kainozoi khu vực Đông Nam Á. Các cơ sở dữ liệu quốc tế gồm dữ liệu hàng hải C-MAP (Na Uy, 1999), hệ thống dữ liệu GEODAS của Trung tâm Dữ liệu Địa vật lý Quốc gia Mỹ (NGDC/NOAA), dữ liệu số độ cao Topo30 của Sandwell, Smith và Becker, cùng mô hình độ sâu GEBCO-08 độ phân giải 30 giây (khoảng 1 km).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: các nghiên cứu trước đây chưa có những tính toán định lượng đầy đủ về bề dày trầm tích liên tục từ đất liền ra vùng sâu Hoàng Sa; thuật toán NFG chưa có tiêu chí chọn số hài chuẩn xác; thuật toán HGM của Blakely và Simpson còn làm sót nhiều đường biên đứt gãy; bản đồ độ sâu mặt Moho chưa có các điểm tựa địa chấn sâu khống chế trực tiếp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng hướng tiếp cận định lượng, kết hợp lý thuyết trường thế với mô hình hóa địa vật lý và xử lý dữ liệu đo đạc thực tế:
- Phương pháp gradient chuẩn hóa toàn phần (NFG) hai chiều: Dựa trên lý thuyết của Berezkin và Buketov (1967), toán tử NFG 2D tại điểm $(x, z)$ trên mặt cắt được xác định theo tỷ số giữa đạo hàm toàn phần $G(x, z)$ và bình phương trung bình $G_{CP}(z)$:
$$G_H(x, z) = \frac{\sqrt{V_x^2(x, z) + V_z^2(x, z)}}{\frac{1}{M}\sum_{i=0}^{M-1} \sqrt{V_x^2(x_i, z) + V_z^2(x_i, z)}}$$
Trong đó, $V_x$ và $V_z$ là đạo hàm bậc nhất của thế trọng lực, $M$ là số điểm đo trên tuyến. Biểu thức khai triển trường theo chuỗi sine Fourier kết hợp hệ số làm trơn $Q_n$ bậc $\mu = 2$ nhằm khử hiệu ứng Gibbs:
$$Q_n = \left[\frac{\sin(\frac{\pi n}{N})}{\frac{\pi n}{N}}\right]^\mu$$
Luận án cải tiến phương pháp bằng việc áp dụng nguyên lý lựa chọn số hài tối ưu $N$ theo Aydın (2000, 2007) dựa trên đồ thị tương quan giữa NFG cực đại và số hài $N$, thay thế việc chọn cố định $N = 2/3 M$.
- Phương pháp gradient ngang cực đại (HGM): Theo Blakely và Simpson (1986), biên nguồn dị thường được xác định qua đạo hàm ngang tổng trên lưới:
$$H[\Delta g(x, y)] = \sqrt{\left(\frac{\partial \Delta g(x, y)}{\partial x}\right)^2 + \left(\frac{\partial \Delta g(x, y)}{\partial y}\right)^2}$$
Điểm cực đại cục bộ giải tích được nội suy bằng hàm bậc hai: $x_{max} = -b / (2a)$. Tác giả luận án đề xuất mở rộng hệ điều kiện kiểm tra nhằm khắc phục việc bỏ sót các điểm cực đại thực sự của hàm bậc hai trong khoảng cách lưới $[-d, d]$.
-
Phương pháp nâng trường (Upward continuation): Theo Blakely (1995), phép biến đổi được thực hiện trong miền tần số bằng nhân tử Fourier $e^{-kz}$ với $z > 0$, nhằm loại bỏ các dị thường cục bộ nông và phân tách trường dị thường của các khối cấu trúc sâu.
-
Phương pháp mô hình hóa trọng lực 2D và 3D: Áp dụng thuật toán của Talwani và Ewing (1960), Murthy và Rao (1989) đối với vật thể tiết diện đa giác bất kỳ có mật độ thay đổi tuyến tính $\sigma(z) = \sigma(0) + az$ hoặc dạng hàm mũ $\sigma(z) = \sigma(0)e^{-\beta z}$. Mô hình hóa 3D áp dụng cho các khối lăng trụ đứng chữ nhật.
Nguồn tư liệu sử dụng gồm bản đồ dị thường Free-air từ dữ liệu vệ tinh của Sandwell và Smith; bản đồ độ sâu đáy biển GEBCO; bản đồ dị thường trọng lực Bouguer; số liệu đo trọng lực thành tàu Gagarinsky; hơn 6.000 km tuyến đo đồng bộ trọng lực, địa chấn, độ sâu của PVEP năm 2009; và tài liệu địa chấn sâu thuộc dự án CSL07-08.
| Phương pháp / Kỹ thuật |
Cơ sở lý thuyết |
Mục đích sử dụng trong luận án |
Cải tiến / Đặc điểm áp dụng |
| NFG 2D |
Berezkin (1967), Aydın (2000, 2007) |
Xác định ranh giới đáy trầm tích và bề mặt Moho |
Lựa chọn số hài tối ưu $N$ theo đồ thị NFG cực đại |
| HGM |
Blakely và Simpson (1986) |
Xác định hệ thống đứt gãy và biên phân dị mật độ |
Mở rộng hệ điều kiện kiểm tra cực trị đa thức bậc hai |
| Nâng trường |
Blakely (1995) |
Phân tách trường dị thường theo độ sâu (0 đến 30 km) |
Sử dụng toán tử tần số $e^{-kz}$ trên lưới dị thường Bouguer |
| Mô hình hóa 2D/3D |
Talwani và Ewing (1960), Murthy và Rao (1989) |
Tính toán hiệu ứng trọng lực của các khối cấu trúc |
Thiết lập biến thiên mật độ tuyến tính và hàm mũ |
| Bài toán ngược trọng lực |
Khử ảnh hưởng lớp nước và trầm tích ($g_{crust-mantle}$) |
Thành lập bản đồ độ sâu bề mặt Moho |
Bổ sung 2 điểm tựa địa chấn sâu khống chế độ sâu |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về địa chất - địa vật lý trên khu vực thềm lục địa bắc Miền Trung Việt Nam
Chương này tổng kết chi tiết các tài liệu địa chất, địa mạo, địa vật lý đã thực hiện tại khu vực từ năm 1950 đến năm 2018. Luận án phân tích bối cảnh các bể trầm tích chính: bể Sông Hồng ở phía Bắc, bể Nam Hải Nam ở phía Đông Bắc, nhóm bể Hoàng Sa và bể Phú Khánh ở phía Nam.
Về địa tầng và cấu trúc móng: Giếng khoan thăm dò 115A-1X và 121CM-1X tại nhóm bể Hoàng Sa cho thấy móng gồm đá trầm tích biến chất, magma xâm nhập và phun trào Paleozoi, Mesozoi, phủ trên là các thống Eocen - Oligocen, Miocen dưới - giữa, Miocen trên và Pliocen - Pleistocen. Tại bể Phú Khánh, móng âm học chủ yếu là granit, granodiorit Mesozoi cùng đá biến chất Creta. Tác giả chỉ rõ rằng các nghiên cứu trước đây chưa định lượng được bề dày trầm tích kéo dài liên tục từ đất liền ra vùng nước sâu Hoàng Sa và tồn tại hạn chế trong việc xác định đứt gãy cũng như độ sâu ranh giới Moho.
Chương 2. Phương pháp nghiên cứu – một số đề xuất cải tiến và kết quả tính toán thử nghiệm
Chương 2 trình bày cơ sở toán học và kết quả thử nghiệm các giải thuật cải tiến trên mô hình lý thuyết:
Đối với phương pháp NFG, tác giả thử nghiệm trên mô hình lăng trụ hình hộp kéo dài vô hạn (Bảng 2.1) và các mô hình trọng lực từ 1 đến 5 với khoảng cách mắt lưới $\Delta x$ khác nhau. Kết quả cho thấy đồ thị biến thiên giữa giá trị NFG cực đại và số hài $N$ cho phép xác định chính xác số hài tối ưu phản ánh đúng độ sâu nguồn (như $N=13$ hoặc $N=55$), khắc phục sai số lớn của cách chọn kinh nghiệm $N = 2/3 M$ ($N=67$). Thử nghiệm trên tuyến đo thực tế AA' đối sánh với mặt cắt địa chấn đẳng thời cho thấy mặt cắt NFG ứng với $N=20$ xác định chính xác ranh giới địa chất.
Đối với phương pháp HGM, tác giả mô phỏng trên hai mô hình 3D: mô hình 1 gồm hai lăng trụ đứng chữ nhật nằm tách rời (Bảng 2.7) và mô hình 2 gồm hai lăng trụ nằm chồng lên nhau (Bảng 2.8). Hệ điều kiện cải tiến xác định đường biên của hai vật thể rõ ràng, liên tục, trong khi thuật toán Blakely và Simpson làm đứt đoạn và mất biên. Thử nghiệm trên bản đồ dị thường Bouguer nâng trường 10 km khẳng định các điểm cực đại HGM cải tiến kết nối thành hệ thống đứt gãy phù hợp với tài liệu địa chất thực tế.
| Mô hình thử nghiệm |
Loại cấu trúc / Tham số lưới |
Thuật toán so sánh |
Kết quả thử nghiệm |
| Mô hình NFG 1 - 5 |
Lăng trụ hình hộp vô hạn, biến thiên $\Delta x$ |
Chọn $N$ theo Aydın so với $N = 2/3 M$ |
Loại bỏ cực đại giả, xác định chính xác độ sâu nguồn |
| Tuyến thực tế AA' |
Tuyến đo trọng lực thực địa và địa chấn |
Khảo sát NFG cực đại theo $N$ |
Chọn $N=20$, kết quả NFG trùng khớp mặt cắt địa chấn |
| Mô hình HGM 1 |
Hai lăng trụ đứng chữ nhật 3D tách rời |
HGM cải tiến so với Blakely & Simpson |
Khôi phục trọn vẹn đường biên khép kín của hai vật thể |
| Mô hình HGM 2 |
Hai lăng trụ đứng chữ nhật 3D chồng lên nhau |
HGM cải tiến so với Blakely & Simpson |
Phân tách rõ ràng biên của cả khối nông và khối sâu |
| Lưới Bouguer nâng 10 km |
Dị thường trọng lực Bouguer khu vực |
Đối sánh đứt gãy thực tế |
HGM cải tiến bổ sung các đoạn đứt gãy liên tục |
Chương 3. Đặc điểm cấu trúc kiến tạo khu vực thềm lục địa bắc miền Trung Việt Nam theo tài liệu địa vật lý
Chương 3 áp dụng toàn bộ các phương pháp cải tiến để xử lý nguồn tài liệu thực tế của khu vực nghiên cứu:
-
Áp dụng NFG cải tiến trên các tuyến đo PKG09-09, PKG09_03, PKBE08N37, PKBE08N29 và các tuyến 1, 2, 3, 4. Tuyến PKGE09-09 được nâng trường lên 20 km với số hài lựa chọn hợp lý $N=16$, xác định được mặt cắt cấu trúc địa chất gồm độ sâu đáy trầm tích và độ sâu ranh giới Moho trùng khớp với đường độ sâu tính từ địa chấn sâu.
-
Áp dụng HGM cải tiến trên lưới dị thường Bouguer ở các mức nâng trường 0 km, 5 km, 10 km, 15 km, 20 km, 25 km và 30 km. Kết quả cho phép lập sơ đồ đứt gãy tổng hợp, bổ sung nhiều hệ thống đứt gãy sâu có phương kinh tuyến, á kinh tuyến và đông bắc - tây nam mà phương pháp cũ không định vị được.
-
Xây dựng hàm phân bố mật độ trung bình theo bề dày trầm tích Kainozoi dựa trên tài liệu vận tốc sóng địa chấn (Bảng 3.1 và Bảng 3.2).
-
Xác định độ sâu bề mặt Moho: Bổ sung hai điểm độ sâu Moho từ tài liệu địa chấn sâu tại giao điểm giữa tuyến PKGE09-09 với tuyến PKBE08N37 và giao điểm giữa tuyến PKGE09-09 với tuyến PKBE08N29. Dựa trên các điểm tựa này, tác giả giải bài toán ngược trọng lực bằng cách loại bỏ ảnh hưởng của lớp nước biển và lớp trầm tích ($g_{crust-mantle}$), tính dị thường dư manti và xây dựng bản đồ độ sâu bề mặt Moho. Kết quả tính toán được đối sánh với số liệu Moho địa chấn và các nghiên cứu trước đây (Bảng 3.3).
-
Thành lập sơ đồ cấu trúc kiến tạo và hệ thống đứt gãy hoàn chỉnh cho vùng thềm lục địa Bắc Miền Trung theo tài liệu địa vật lý.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đạt được những kết quả và đóng góp mới cụ thể:
- Về phương pháp xử lý trường thế: Áp dụng thành công quy trình lựa chọn hệ số hài hợp lý $N$ cho phương pháp NFG, loại bỏ sự phụ thuộc vào công thức kinh nghiệm $2/3 M$; đề xuất cải tiến thuật toán HGM giúp nhận diện liên tục và đầy đủ biên phân dị mật độ và hệ thống đứt gãy kiến tạo.
- Về đặc trưng mật độ: Thiết lập hàm phân bố mật độ trung bình của tầng trầm tích Kainozoi trên toàn khu vực thềm lục địa Bắc Miền Trung – Hoàng Sa từ tài liệu vận tốc sóng địa chấn.
- Về cấu trúc sâu ranh giới Moho: Bổ sung hai điểm tựa độ sâu bề mặt Moho từ tài liệu địa chấn sâu tại giao điểm các tuyến PKGE09-09 với PKBE08N37 và PKBE08N29; xây dựng bản đồ địa hình bề mặt Moho bằng bài toán ngược trọng lực với độ chính xác và độ tin cậy được nâng cao.
- Về cấu trúc kiến tạo: Xây dựng sơ đồ hệ thống đứt gãy ở các độ sâu nâng trường khác nhau và sơ đồ phân vùng cấu trúc kiến tạo khu vực nghiên cứu.
- Về ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học về cấu trúc sâu vỏ Trái Đất phục vụ công tác xác định đường ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng của Việt Nam theo Điều 76 UNCLOS 1982, đặc biệt là việc cập nhật hồ sơ khu vực phía Bắc (VNM-N) và hoàn thiện hồ sơ khu vực giữa (VNM-C).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Mật độ tài liệu địa chấn sâu và giếng khoan thăm dò tại vùng biển sâu, khu vực quần đảo Hoàng Sa và trũng sâu bể Phú Khánh còn thưa thớt.
- Các giếng khoan hiện có chủ yếu chỉ khoan sâu một vài kilômét trong tầng trầm tích Kainozoi, chưa chạm tới móng kết tinh sâu ở nhiều cấu trúc.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Kiến nghị tiếp tục thu thập và bổ sung thêm các tuyến đo địa chấn sâu và số liệu khoan sâu tại vùng biển sâu và quần đảo Hoàng Sa để chính xác hóa ranh giới móng trước Kainozoi và bề mặt Moho.
- Tiếp tục mở rộng phạm vi ứng dụng của hệ phương pháp NFG và HGM cải tiến sang các vùng biển kế cận trên thềm lục địa Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Vật lý địa cầu, Địa chất biển, Địa kiến tạo và Thăm dò dầu khí.
- Các chuyên gia xử lý số liệu trường thế cần quy trình thuật toán cải tiến NFG và HGM để định vị biên cấu trúc và giải bài toán ngược trọng lực.
- Các cơ quan quản lý và nghiên cứu hoạch định ranh giới biển như Ủy ban Biên giới Quốc gia (Bộ Ngoại giao), Viện Địa chất và Địa vật lý biển, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong công tác hoàn thiện hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa theo UNCLOS 1982.
Phần đáng tham khảo nhất là cơ sở toán học và kết quả kiểm nghiệm mô hình của hai thuật toán cải tiến NFG và HGM ở Chương 2, cùng quy trình tích hợp hàm mật độ và điểm tựa địa chấn sâu để tính toán bản đồ Moho ở Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
-
Phương pháp NFG cải tiến trong luận án khắc phục nhược điểm gì của cách làm trước đây?
Phương pháp trước đây thường chọn số hài Fourier cố định bằng hai phần ba số điểm đo ($N = 2/3 M$), vốn mang tính kinh nghiệm và chỉ đúng trong một số ít trường hợp. Luận án khắc phục bằng cách xác lập mối liên hệ giữa hệ số $N$ và giá trị NFG cực đại theo nghiên cứu của Aydın, giúp định vị chính xác độ sâu nguồn dị thường trên cả mô hình lý thuyết lẫn tuyến đo thực tế.
-
Thuật toán HGM được tác giả cải tiến như thế nào so với giải thuật gốc của Blakely và Simpson (1986)?
Thuật toán gốc của Blakely và Simpson chỉ kiểm tra các bất đẳng thức rời rạc giữa điểm nút và 8 điểm lân cận, dẫn đến việc bỏ sót nhiều điểm cực đại giải tích của hàm bậc hai trong khoảng $[-d, d]$. Luận án mở rộng hệ điều kiện kiểm tra đa thức bậc hai, giúp ghi nhận đầy đủ các giá trị cực đại và kết nối hệ thống đứt gãy liên tục, không bị đứt đoạn.
-
Hai điểm tựa địa chấn sâu mới được luận án bổ sung để xác định mặt Moho nằm ở vị trí nào?
Hai điểm tựa địa chấn sâu được xác định tại giao điểm giữa tuyến địa chấn PKGE09-09 với tuyến PKBE08N37 và giao điểm giữa tuyến PKGE09-09 với tuyến PKBE08N29, thuộc nguồn tài liệu địa chấn sâu của dự án CSL07-08.
-
Hàm phân bố mật độ trầm tích Kainozoi trong luận án được xây dựng từ nguồn dữ liệu nào?
Hàm phân bố mật độ trung bình theo bề dày tầng trầm tích Kainozoi được tính toán trực tiếp từ các giá trị vận tốc sóng địa chấn theo tài liệu địa chấn thực tế trên khu vực nghiên cứu.
-
Kết quả phân tích cấu trúc sâu của luận án phục vụ mục tiêu thực tiễn gì?
Kết quả cung cấp các luận cứ khoa học về cấu trúc vỏ Trái Đất, bề dày trầm tích và ranh giới Moho nhằm khẳng định sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ, trực tiếp phục vụ công tác xây dựng và hoàn thiện hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng của Việt Nam (khu vực VNM-N và VNM-C) đệ trình lên Liên Hợp Quốc theo Điều 76 UNCLOS 1982.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trần Văn Khá đã hoàn thành việc nghiên cứu cấu trúc kiến tạo thềm lục địa Bắc Miền Trung Việt Nam trên cơ sở cải tiến và áp dụng hai phương pháp NFG và HGM trong xử lý tài liệu trọng lực. Công trình đã thành lập hàm phân bố mật độ trầm tích Kainozoi, xác định hệ thống đứt gãy ở nhiều mức nâng trường và bổ sung hai điểm tựa địa chấn sâu để xây dựng bản đồ độ sâu bề mặt Moho có độ tin cậy cao. Các kết quả đạt được đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu địa vật lý cấu trúc sâu và cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền thềm lục địa Việt Nam theo luật pháp quốc tế.