Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Quốc Cường (Trường Đại học Lâm nghiệp, dưới sự hướng dẫn của TS. Vương Duy Hưng) tập trung nghiên cứu hiện trạng thực vật cho lâm sản tại khu rừng thuộc xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Rừng tự nhiên đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, duy trì đa dạng sinh học và cung cấp các nguồn lâm sản phục vụ đời sống con người. Tuy nhiên, trước sức ép của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự gia tăng dân số, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng và việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tài nguyên rừng tại nhiều địa phương đang đứng trước nguy cơ suy thoái nghiêm trọng.
Thị xã Đông Triều có tổng diện tích tự nhiên là 39.658,34 ha, trong đó khu rừng Ngọa Vân (nằm trên địa bàn thôn Trại Lốc, xã An Sinh và thôn Tây Sơn, xã Bình Khê) là nơi có cảnh quan hoang sơ và chứa đựng Quần thể di tích quốc gia đặc biệt Nhà Trần – đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng tại Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013. Mặc dù diện tích rừng tự nhiên tại xã An Sinh không còn lớn (1.027,9 ha), khu vực này giữ vai trò trọng yếu trong việc bảo tồn nguồn gen bản địa. Do chưa có quy hoạch bảo vệ chi tiết, rừng Ngọa Vân đang chịu áp lực khai thác không kiểm soát từ cộng đồng dân cư xung quanh, làm suy giảm diện tích và đe dọa các loài thực vật quý hiếm.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Xây dựng cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên thực vật tại khu vực xã An Sinh.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định được các đặc điểm đặc trưng của thực vật cho lâm sản tại khu vực rừng Ngọa Vân.
- Đề xuất được các giải pháp quản lý và phát triển tài nguyên thực vật cho khu vực nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu:
- Đa dạng thực vật cho lâm sản tại khu vực nghiên cứu (đa dạng về bậc phân loại, họ đơn loài, loài nguy cấp quý hiếm, phổ dạng sống và nhóm công dụng).
- Tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên thực vật tại địa phương.
- Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển tài nguyên thực vật cho khu vực.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật cho lâm sản phân bố tự nhiên tại khu vực nghiên cứu.
- Phạm vi nội dung: Hiện trạng tài nguyên thực vật cho lâm sản tại rừng Ngọa Vân, xã An Sinh.
- Phạm vi không gian: Khu rừng Ngọa Vân, xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi thời gian: Thực hiện từ tháng 11/2018 đến tháng 06/2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kế thừa các cơ sở lý luận về phân loại thực vật, sinh thái học rừng và lâm sản ngoài gỗ từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước (Mendelsohn 1989; C. Chandrasekhanran 1995; Thái Văn Trừng 1978, 1999; Nguyễn Nghĩa Thìn 1997, 2004; Trần Minh Hợi 2013). Các căn cứ pháp lý và tiêu chuẩn bảo tồn được áp dụng gồm: Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14; Quyết định số 2383/QĐ-TTg; Sách Đỏ Việt Nam (2007); Nghị định số 06/2019/NĐ-CP; Danh lục đỏ IUCN (2012, 2018).
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu:
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các nghiên cứu thực vật học đã thực hiện trên địa bàn (như công trình của Ngô Đức Hậu năm 2016, Hoàng Văn Tuệ năm 2018).
- Phương pháp điều tra thực địa theo tuyến: Thực hiện điều tra sơ thám xác định phạm vi, sau đó thiết lập 9 tuyến điều tra tỷ mỷ với chiều dài từ 6 đến 10 km/tuyến. Cứ mỗi 100 m trên tuyến chính, lập 2 tuyến phụ vuông góc về hai bên để rà soát toàn bộ các loài thực vật mọc tự nhiên:
- Tuyến 1: Ga cáp treo dưới – Cột cáp treo 2.
- Tuyến 2: Chân đường đi bộ – Cầu Kiệu.
- Tuyến 3: Chân đường đi bộ – Cột cáp treo 3.
- Tuyến 4: Chân đường đi bộ – Cột cáp treo 4.
- Tuyến 5: Chân cột cáp treo 4 – Ga cáp treo trên.
- Tuyến 6: Cầu Kiệu – Thông đàn.
- Tuyến 7: Đường đi bộ ga cáp treo trên lên Chùa Trung.
- Tuyến 8: Chùa Ngọa Vân lên đỉnh núi.
- Tuyến 9: Sau Chùa Trung – Đường Công vụ.
- Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật: Thu thập 677 số hiệu mẫu qua 5 đợt điều tra khảo sát. Quy cách lấy mẫu đảm bảo đầy đủ cành, lá, hoa hoặc quả; ghi nhãn số hiệu theo định dạng năm-tháng-ngày-số thứ tự (ví dụ: 190309-01), chụp ảnh chi tiết các cơ quan hình thái và ghi chép nhật ký bằng bút chì nén.
- Phương pháp giám định tên khoa học: Sử dụng phương pháp hình thái so sánh, tra cứu khóa định loại qua các bộ khóa phân loại thực vật Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, Nguyễn Tiến Bân) và tham vấn chuyên gia phân loại thực vật. Danh lục sắp xếp theo hệ thống phân loại Brummit (1992).
- Phương pháp đánh giá dạng sống và công dụng: Xác định phổ dạng sống theo hệ thống Raunkiaer (1934) đã được Thái Văn Trừng (1999) chuẩn hóa; phân loại nhóm công dụng thành 10 nhóm theo Trần Minh Hợi (2013).
- Phương pháp điều tra kinh tế - xã hội: Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý di tích, kiểm lâm địa bàn và tiến hành phỏng vấn 20 hộ gia đình tại 4 thôn có rừng gồm Đồng Dung, Tam Hồng, Gia Đôi, Mai Long nhằm thu thập số liệu về phương thức khai thác, mức độ phụ thuộc thu nhập và thị trường tiêu thụ lâm sản.
Nội dung chính theo từng chương
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về thực vật và lâm sản ngoài gỗ trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả tổng thuật các nghiên cứu dược liệu tại Liên Xô (cũ), Trung Quốc, các phân loại lâm sản ngoài gỗ của FAO, công trình của de Beer, Falconer (1993), Lemmens (1999) và các ước tính của WWF, WHO về tài nguyên cây thuốc. Tại Việt Nam, chương tổng quan điểm lại lịch sử phân loại từ Tuệ Tĩnh (1417), Lecomte, Thái Văn Trừng (1978), Phạm Hoàng Hộ (1991–2000), Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Lê Trần Chấn (1999), Nguyễn Tiến Bân (2001–2005) đến Báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học (2011). Tác giả phân tích các nghiên cứu chuyên sâu về Thảo quả, Sa nhân của Đỗ Tất Lợi (1975), Lê Trần Đức (1997) và các khảo sát tại VQG Cát Tiên, Yok Đôn, Bạch Mã, Yên Tử. Riêng tại An Sinh, tác giả phân tích kết quả của Ngô Đức Hậu (2016) và Hoàng Văn Tuệ (2018 - ghi nhận 297 loài, 219 chi, 94 họ), chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các tài liệu trước mới dừng ở thống kê thành phần loài sơ bộ, chưa phân tích hiện trạng khai thác, sử dụng và giá trị thương phẩm của tài nguyên thực vật cho lâm sản.
Mục tiêu, nội dung, phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết khung nghiên cứu, xác định mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, đối tượng khảo sát và phạm vi không gian, thời gian. Chương này mô tả cụ thể tiến trình kỹ thuật: điều tra sơ thám, thiết kế 9 tuyến điều tra thực địa, phương pháp thu hái 677 số hiệu mẫu, nguyên tắc chụp ảnh định danh, đối chiếu tài liệu để giám định mẫu bằng hình thái so sánh, hệ thống Brummit (1992), phương pháp Raunkiaer (1934), tiêu chí Trần Minh Hợi (2013) và phương pháp phỏng vấn 20 hộ gia đình.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Chương 3 cung cấp số liệu chi tiết về xã An Sinh (tọa độ 21°10’11’’B, 106°32’0’’Đ; trải dài 17 km theo hướng Đông - Tây; gồm 17 thôn với 11 thôn có rừng). Khí hậu mang tính chất gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 22°C, lượng mưa trung bình 1.790 mm, độ ẩm trung bình 80%, mùa khô hanh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau có nguy cơ cháy rừng cao từ 16 đến 22 giờ.
Về tài nguyên đất và rừng: Tổng diện tích tự nhiên xã An Sinh là 8.306,4 ha; diện tích đất lâm nghiệp là 6.187,17 ha, trong đó đất có rừng là 5.143,3 ha (rừng tự nhiên: 1.027,9 ha; rừng trồng: 4.115,4 ha), độ che phủ rừng đạt 61,9%. Phân loại theo chức năng gồm rừng phòng hộ (3.956,7 ha), rừng sản xuất (2.050,3 ha) và ngoài 3 loại rừng (180,3 ha). Chủ rừng lớn nhất là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều quản lý 4.539,05 ha.
Thảm thực vật rừng Ngọa Vân (gồm tiểu khu 10A xã An Sinh và 10B xã Bình Khê) có 7 kiểu trạng thái rừng; cấu trúc tầng tán ưu thế bởi Đỏm gai (Bridelia minutiflora), Cứt ngựa (Archidendron balansae), Sồi lá mai (Lithocarpus bambusaefolia), Chẹo tía (Engelhardtia chrysolepis), Dẻ mỡ gà (Pasania eihidnocarpa), mật độ tầng cây gỗ đạt 1.020 cây/ha với độ tàn che 70–80%. Về kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân chủ yếu làm nông nghiệp, kết cấu hạ tầng còn phân tán, công tác xử lý rác thải sinh hoạt và nghĩa trang nhân dân chưa triệt để, dịch vụ y tế khám chữa bệnh cho trên 63.000 lượt người/năm.
Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung trọng tâm của đề tài, tập trung phân tích 4 nhóm vấn đề:
- Đa dạng phân loại: Xác định 250 loài thực vật bậc cao có mạch cho lâm sản, thuộc 193 chi, 90 họ thuộc 3 ngành thực vật.
- Đa dạng bảo tồn và dạng sống: Phát hiện 15 loài nguy cấp quý hiếm; ghi nhận 38 họ thực vật đơn loài; thiết lập phổ dạng sống tổng quát với ưu thế tuyệt đối của nhóm cây chồi trên (Ph = 84,8%).
- Hiện trạng khai thác và sử dụng: Phân loại 250 loài vào 10 nhóm giá trị sử dụng (tổng cộng 452 lượt sử dụng), trong đó nhóm cây làm thuốc dẫn đầu với 199 loài (79,6%), cây lấy gỗ 86 loài (34,4%).
- Khảo sát kinh tế hộ và thị trường: Điều tra 20 hộ dân cho thấy 100% hộ có sử dụng lâm sản; nguồn thu lâm sản đóng góp 20–30% thu nhập gia đình; sản phẩm bán tươi chịu sự ép giá của thương lái. Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật, xã hội, kinh tế và quản lý nhằm bảo tồn tài nguyên rừng Ngọa Vân.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng chính
1. Đa dạng bậc ngành của thực vật cho lâm sản tại khu vực nghiên cứu:
| Ngành / Lớp thực vật |
Số họ |
Tỷ lệ họ (%) |
Số chi |
Tỷ lệ chi (%) |
Số loài |
Tỷ lệ loài (%) |
| Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) |
1 |
1,11 |
1 |
0,52 |
2 |
0,80 |
| Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) |
11 |
12,22 |
13 |
6,74 |
16 |
6,40 |
| Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) |
78 |
86,67 |
179 |
92,75 |
232 |
92,80 |
| - Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) |
67 |
85,90 |
160 |
89,39 |
210 |
90,52 |
| - Lớp Loa kèn (Liliopsida) |
11 |
14,10 |
19 |
10,61 |
22 |
9,48 |
| Tổng cộng |
90 |
100,00 |
193 |
100,00 |
250 |
100,00 |
2. Các họ và chi giàu loài nhất:
- 10 họ giàu loài nhất gồm 66 chi (chiếm 34,2% tổng số chi) và 99 loài (chiếm 39,6% tổng số loài). Đứng đầu là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 16 chi, 21 loài (8,4%); tiếp theo là họ Cà phê (Rubiaceae) với 11 chi, 14 loài (5,6%); họ Đậu (Fabaceae) với 10 chi, 14 loài (5,6%); họ Long não (Lauraceae) có 7 chi, 10 loài (4,0%); họ Dẻ (Fagaceae) có 3 chi, 9 loài (3,6%); họ Dâu tằm (Moraceae) có 2 chi, 8 loài (3,2%).
- 10 chi nhiều loài nhất có tổng cộng 36 loài (chiếm 18,65% tổng số loài), dẫn đầu là chi Ficus (7 loài, 2,8%), chi Castanopsis (6 loài, 2,4%), chi Archidendron (4 loài, 1,6%).
- Nghiên cứu xác định được 38 họ đơn loài (như Angiopteridaceae, Blechnaceae, Aceraceae, Aquifoliaceae, Clusiaceae, Juglandaceae, Polygalaceae, Piperaceae...), đòi hỏi ưu tiên bảo tồn nghiêm ngặt để tránh mất mát cấp bậc phân loại cao.
3. Danh sách các loài nguy cấp, quý hiếm (15 loài):
| TT |
Tên loài Việt Nam |
Tên khoa học |
Họ thực vật |
Cấp bảo tồn |
| 1 |
Sưa |
Dalbergia tonkinensis Prain |
Đậu (Fabaceae) |
Nhóm IA (NĐ 06/2019) |
| 2 |
Lim xanh |
Erythrophleum fordii Oliv. |
Đậu (Fabaceae) |
Nhóm IIA (NĐ 06/2019) |
| 3 |
Vù hương |
Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn. |
Long não (Lauraceae) |
CR (Sách Đỏ VN 2007) |
| 4 |
Ngũ gia bì gai |
Acanthopanax trifoliatus (L.) |
Ngũ gia bì (Araliaceae) |
EN (Sách Đỏ VN 2007) |
| 5 |
Tô hạp trung hoa |
Altingia chinensis (Benth.) Oliv ex Hance |
Tô hạp (Altingiaceae) |
EN (Sách Đỏ VN 2007) |
| 6 |
Sến mật |
Madhuca pasquieri (Dubard) H. Lam |
Hồng xiêm (Sapotaceae) |
EN (Sách Đỏ VN 2007) |
| 7 |
Sồi bắc giang |
Lithocarpus bacgiangensis (Hickel & A. Camus) |
Dẻ (Fagaceae) |
VU (Sách Đỏ VN 2007) |
| 8 |
Sồi quang |
Quercus chrysocalyx Hickel & A. Camus |
Dẻ (Fagaceae) |
VU (Sách Đỏ VN 2007) |
| 9 |
Tắc kè đá |
Drynaria bonii Christ |
Dương xỉ (Polypodiaceae) |
VU (Sách Đỏ VN 2007) |
| 10 |
Giổi bà |
Michelia balansae (A.) Dandy |
Ngọc lan (Magnoliaceae) |
VU (Sách Đỏ VN 2007) |
| 11 |
Hoàng tinh hoa trắng |
Disporopsis longifolia Craib |
Convallariaceae |
VU (Sách Đỏ VN 2007) |
| 12 |
Rau sắng |
Melientha suavis Pierre |
Sơn cam (Opiliaceae) |
VU (Sách Đỏ VN 2007) |
| 13 |
Trám đen |
Canarium tramdenum Dai & Yakovl. |
Trám (Burseraceae) |
VU (Sách Đỏ VN 2007) |
| 14 |
Lá khôi |
Ardisia silvestris Pitard |
Đơn nem (Myrsinaceae) |
VU (Sách Đỏ VN 2007) |
| 15 |
Dẻ gai lơ công |
Castanopsis lecomtei Hickel & A. Camus |
Dẻ (Fagaceae) |
VU (Sách Đỏ VN 2007) |
4. Đa dạng dạng sống và nhóm công dụng:
- Phổ dạng sống tổng quát:
$$\text{SB} = 84,8%\text{Ph} + 6,4%\text{Hm} + 5,2%\text{Ch} + 2,4%\text{T} + 1,2%\text{Cr}$$
Trong nhóm chồi trên (Ph = 212 loài), tỷ lệ chi tiết gồm: cây chồi trên nhỏ (Mi) chiếm 24,0% (60 loài); cây chồi trên lùn (Na) chiếm 20,4% (51 loài); cây chồi trên nhỡ (Me) chiếm 18,4% (46 loài); dây leo gỗ (Lp) chiếm 13,6% (34 loài); cây chồi trên to (Mg) chiếm 7,2% (18 loài); cây bì sinh (Ep) chiếm 1,2% (3 loài).
- Nhóm công dụng: 250 loài được sử dụng vào 10 nhóm mục đích khác nhau với 452 lượt sử dụng:
- Cây làm thuốc (I): 199 loài (79,6%).
- Cây lấy gỗ (A): 86 loài (34,4%).
- Cây làm thức ăn cho người và gia súc (G): 81 loài (32,4%).
- Cây có hoa, làm cảnh và bóng mát (D): 43 loài (17,2%).
- Cây cho tanin và chất tạo màu (H): 14 loài (5,6%).
- Cây cho tinh dầu (K): 11 loài (4,4%).
- Cây trồng rừng và phụ trợ nông lâm nghiệp (B): 9 loài (3,6%).
- Cây có dầu béo (F): 5 loài (2,0%).
- Các loài tre trúc (C): 2 loài (0,8%).
- Cây song mây (E): 2 loài (0,8%).
5. Hiện trạng khai thác và giá bán lâm sản:
Kết quả điều tra 20 hộ gia đình ghi nhận 100% người dân có sử dụng lâm sản; mức đóng góp của lâm sản chiếm từ 20–30% tổng thu nhập hàng năm của hộ gia đình. Tình hình tiêu thụ một số loài chủ lực được thống kê như sau:
| Tên loài |
Bộ phận sử dụng |
Giá bán tươi (đồng/kg) |
| Trám đen |
Quả |
180.000 |
| Ba kích |
Củ |
150.000 |
| Rau sắng |
Cành lá non |
100.000 |
| Dẻ ăn quả |
Quả |
80.000 |
| Trám trắng |
Quả |
40.000 |
| Tre gai |
Măng |
20.000 |
Giải pháp tác giả đề xuất
- Nhóm giải pháp kỹ thuật: Khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực có loài nguy cấp quý hiếm và 38 họ đơn loài; xây dựng mô hình nhân giống và gây trồng bảo tồn ngoại vi (ex-situ) đối với các loài quý hiếm và cây gỗ lớn (Sưa, Lim xanh); xây dựng khóa tra thực vật và phòng tiêu bản mẫu đặt ngay tại xã An Sinh để hỗ trợ giám định tại chỗ.
- Nhóm giải pháp kinh tế - xã hội: Đẩy mạnh tuyên truyền và tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng với các hộ gia đình; hỗ trợ vốn trồng cây phân tán; phát triển mô hình nông lâm kết hợp, làng nghề đan lát và các sản phẩm thuốc nam truyền thống; hoàn thiện chính sách giao đất gắn với giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên; lồng ghép các chương trình Nông thôn mới kiểu mẫu và phát triển dịch vụ du lịch tâm linh gắn với Quần thể di tích Ngọa Vân.
- Nhóm giải pháp quản lý: Đóng mốc ranh giới rừng Ngọa Vân trên thực địa; tăng cường tuần tra liên ngành giữa Kiểm lâm, Công an, Quân sự và chính quyền địa phương nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép và thả rông gia súc; xử lý nghiêm minh các vi phạm theo Luật Lâm nghiệp.
Đóng góp của đề tài
So với công trình trước đó của Hoàng Văn Tuệ (2018) chỉ dừng lại ở việc thống kê danh lục 297 loài mà chưa đánh giá khía cạnh lâm sản, nghiên cứu của Trần Quốc Cường đã bổ sung hệ thống dữ liệu định lượng về 250 loài thực vật có giá trị cung cấp lâm sản, phân loại chi tiết 10 nhóm giá trị sử dụng, xác định phổ dạng sống, định danh 15 loài nguy cấp quý hiếm, đồng thời cung cấp các số liệu thực tế về giá bán thương phẩm và mức độ phụ thuộc kinh tế của cộng đồng địa phương vào lâm sản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Thời gian điều tra thực địa giới hạn trong 8 tháng (từ tháng 11/2018 đến tháng 06/2019), chưa theo dõi được trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng, ra hoa kết quả qua các mùa của toàn bộ các loài; dung lượng mẫu điều tra kinh tế - xã hội còn hẹp (20 hộ gia đình tại 4 thôn); chưa tiến hành định lượng trữ lượng sinh khối và sản lượng khai thác bền vững của từng loài lâm sản cụ thể ngoài tự nhiên.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng các tuyến điều tra bổ sung vào các tháng mùa thu; nghiên cứu chuyên sâu về đặc tính sinh học sinh sản và kỹ thuật nhân giống vô tính/hữu tính cho các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao (Vù hương, Sưa, Lim xanh, Ba kích, Trám đen); nghiên cứu xây dựng chuỗi giá trị và liên kết tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ ổn định nhằm giảm thiểu tình trạng tư thương ép giá người dân địa phương.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn dữ liệu chuyên khảo thực chứng phục vụ cho:
- Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Quản trị tài nguyên và môi trường, Thực vật học, Dược liệu học làm tài liệu nghiên cứu so sánh về đa dạng hệ thực vật miền núi Đông Bắc.
- Cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, Hạt Kiểm lâm thị xã Đông Triều, Ban quản lý Khu di tích Quốc gia đặc biệt Nhà Trần tại Đông Triều, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều và UBND xã An Sinh trong việc lập quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học, phân định ranh giới bảo vệ nghiêm ngặt và xây dựng phương án giao khoán rừng.
- Các phần đáng tham khảo trực tiếp: Phương pháp thiết lập 9 tuyến điều tra phân loại thực vật; Danh mục 15 loài thực vật nguy cấp quý hiếm; Danh sách 38 họ đơn loài cần ưu tiên bảo tồn; Bảng giá thương phẩm của các loài lâm sản chủ lực tại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Hệ thực vật cho lâm sản tại khu vực rừng Ngọa Vân, xã An Sinh gồm bao nhiêu loài và phân bố theo các ngành thực vật như thế nào?
Nghiên cứu đã xác định được 250 loài thực vật bậc cao có mạch cho lâm sản, thuộc 193 chi, 90 họ trong 3 ngành. Trong đó, ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 232 loài (92,80%), 179 chi (92,75%) và 78 họ (86,67%). Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) có 16 loài (6,40%), 13 chi (6,74%) và 11 họ (12,22%). Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có số lượng ít nhất với 2 loài (0,80%), 1 chi (0,52%) và 1 họ (1,11%).
2. Họ thực vật nào có số lượng loài và chi lớn nhất trong khu vực nghiên cứu?
Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có số lượng chi và loài lớn nhất tại khu vực, gồm 16 chi (chiếm 8,3% tổng số chi) và 21 loài (chiếm 8,4% tổng số loài). Đứng thứ hai là họ Cà phê (Rubiaceae) và họ Đậu (Fabaceae), mỗi họ đều có 14 loài (chiếm 5,6%). Về cấp độ chi, chi Ficus (thuộc họ Dâu tằm - Moraceae) có số lượng loài nhiều nhất với 7 loài (chiếm 2,8%).
3. Khóa luận ghi nhận bao nhiêu loài thực vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và các quy định bảo tồn của Nhà nước?
Có 15 loài thực vật nguy cấp, quý hiếm. Cụ thể: 02 loài thuộc danh mục Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ gồm Sưa (Dalbergia tonkinensis - Nhóm IA) và Lim xanh (Erythrophleum fordii - Nhóm IIA). Trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) có: 01 loài ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR) là Vù hương; 03 loài ở mức Nguy cấp (EN) gồm Tô hạp trung hoa, Ngũ gia bì gai, Sến mật; 09 loài ở mức Sắp nguy cấp (VU) gồm Tắc kè đá, Trám đen, Dẻ gai lơ công, Sồi bắc giang, Sồi quang, Giổi bà, Lá khôi, Rau sắng và Hoàng tinh hoa trắng.
4. Dạng sống nào chiếm tỷ lệ vượt trội trong thảm thực vật cho lâm sản tại xã An Sinh?
Nhóm cây chồi trên (Phanerophytes - Ph) chiếm ưu thế áp đảo với 212 loài, đạt tỷ lệ 84,8%. Trong nhóm này, cây chồi trên nhỏ (Mi, cao 2-8 m) chiếm tỷ lệ cao nhất với 24,0% (60 loài), cây chồi trên lùn (Na, cao 25-200 cm) chiếm 20,4% (51 loài), cây chồi trên nhỡ (Me, cao 8-25 m) chiếm 18,4% (46 loài), dây leo gỗ (Lp) chiếm 13,6% (34 loài), cây chồi trên to (Mg, cao trên 25 m) chiếm 7,2% (18 loài) và cây bì sinh (Ep) chiếm 1,2% (3 loài).
5. Hoạt động khai thác lâm sản đóng góp tỷ trọng bao nhiêu vào kinh tế hộ gia đình tại địa phương và giá bán một số sản phẩm tươi ra sao?
Lâm sản đóng góp từ 20% đến 30% tổng thu nhập hàng năm của các hộ gia đình tham gia điều tra tại 4 thôn. Các sản phẩm chủ yếu được bán dưới dạng tươi chưa qua chế biến, dẫn đến nguy cơ bị tư thương ép giá. Mức giá bán tươi một số loài ghi nhận được gồm: Trám đen đạt 180.000 đồng/kg quả; Ba kích đạt 150.000 đồng/kg củ; Rau sắng đạt 100.000 đồng/kg cành lá non; Dẻ ăn quả đạt 80.000 đồng/kg quả; Trám trắng đạt 40.000 đồng/kg quả; Tre gai đạt 20.000 đồng/kg măng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Quốc Cường đã hệ thống hóa và phân tích toàn diện hiện trạng tài nguyên thực vật cho lâm sản tại khu rừng Ngọa Vân, xã An Sinh, thị xã Đông Triều, ghi nhận sự hiện diện của 250 loài thuộc 193 chi, 90 họ, trong đó xác định được 15 loài thực vật nguy cấp quý hiếm và 38 họ đơn loài có giá trị bảo tồn cao. Kết quả điều tra thực địa đã làm rõ phổ dạng sống với sự chiếm ưu thế của nhóm cây chồi trên (84,8%), đồng thời chỉ ra tiềm năng lớn về nhóm cây làm thuốc (199 loài) và cây lấy gỗ (86 loài). Nghiên cứu cũng lượng hóa được sự phụ thuộc kinh tế của người dân địa phương vào nguồn lợi lâm sản (chiếm 20–30% thu nhập hộ), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ kỹ thuật khoanh nuôi, nhân giống bảo tồn đến các cơ chế quản lý, giao khoán và phát triển sinh kế bền vững gắn với khu di tích lịch sử địa phương.