ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của trái đất nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Ngoài chức năng cung cấp những lâm sản phục vụ nhu cầu của con ngƣời, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trƣờng sinh thái và rừng là nơi lƣu giữ các nguồn gen động thực vật phục vụ cho cho các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp. Rừng có đƣợc những chức năng đó là nhờ có đa dạng sinh học. Tuy nhiên, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ những năm cuối thế kỷ XX, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhu cầu về lâm sản tăng, khai thác rừng quá mức và sự bùng nổ dân số đã làm cho giá trị đa dạng sinh học cũng nhƣ chất lƣợng môi trƣờng sống ngày càng bị suy thoái đã đặt ra cho chúng ta một thách thức vô cùng to lớn.
Chính vì thế, việc khai thác hợp lý, bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng và bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng trở nên cấp thiết. Đông Triều là một huyện trung du của tỉnh Quảng Ninh, mảnh đất địa linh nhân kiệt, vùng quê giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, nơi lƣu giữ nhiều di tích lịch sử văn hóa trên mặt cũng nhƣ trong lòng đất, với diện tích tự nhiên là 39.658,34ha, trong đó diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 19. Đông Triều có một nguồn tài nguyên sinh học tƣơng đối dồi dào, tính đa dạng sinh học cao và những điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc nâng cao năng suất sinh học của hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo. Xong do khai thác không kiểm soát của con ngƣời mà nguồn tài nguyên đang đứng trƣớc một thực tế cần báo động.
Đó là sự xâm hại dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên và suy thái đa dạng sinh học của các hệ sinh thái trong vùng. Rừng Ngọa Vân nằm ở thôn Trại Lốc xã An Sinh và thôn Tây Sơn xã Bình Khê, cách đƣờng Quốc lộ 18A và trung tâm thị xã Đông Triều chừng 10 km về hƣớng Tây Nam, cách Trung tâm thiền viện trúc lâm Yên Tử chừng 20km về hƣớng Đông. Rừng Ngọa Vân nơi có quần thể di tích quốc gia Nhà Trần đã đƣợc xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 2383/QĐ-TTg, ngày 1 09/12/2013 của Thủ tƣớng chính phủ. Hiện nay rừng Ngọa Vân vẫn còn giữ đƣợc cảnh quan thiên nhiên hoang sơ vốn có, tuy nhiên do chƣa có quy hoạch bảo vệ cụ thể nên trong thời gian qua rừng Ngọa Vân bị lấn chiếm, diện tích tự nhiên dần bị thu hẹp đáng kể.
Một số loài động, thực vật trong rừng Ngọa Vân đã bị xâm hại, ảnh hƣởng đến giá trị đa dạng sinh học. Có thể thấy, ngoài giá trị văn hóa lịch sử, rừng Ngọa Vân còn là một thắng cảnh đẹp, với rừng cây tự nhiên, có đập, gò đồi, đƣợc bao bọc bởi xóm làng, đồng ruộng, nếu biết bảo tồn, đầu tƣ khai thác rừng Ngọa Vân sẽ trở thành một di tích lịch sử văn hóa và thắng cảnh đẹp hấp dẫn khách tham quan du lịch. Mặc dù diện tích rừng tự nhiên của xã An Sinh không còn nhiều nhƣng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự sống còn của cộng đồng trong việc duy trì tính đa dạng sinh học và bảo vệ môi trƣờng sinh thái tại địa phƣơng. Tuy nhiên trong thực tế nguồn tài nguyên rừng tại đây đang bị tác động mạnh bởi sức ép dân số xung quanh.
Do vậy, việc phân tích, đánh giá tài nguyên thực vật cho khu vực sẽ xác định đƣợc bản chất, tính chất, mức độ đa dạng của tài nguyên thực vật tại An Sinh và qua đó dự báo đƣợc xu hƣớng biến đổi của chúng trong tƣơng lai gần, làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên, bảo tồn nguồn gen quý hiếm. Nhằm mục đích cung cấp dữ liệu chi tiết về tính đa dạng của tài nguyên thực vật Rừng Ngọa Vân tại xã An Sinh, góp phần vào công tác quản lý, sử dụng, phát triển bền vững tài nguyên hệ thực vật Rừng Ngọa Vân tại xã An Sinh, tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng thực vật cho lâm sản tại khu rừng tại xã An Sinh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn.
đã nghiên cứu thành công công trình “Phƣơng pháp nghiên cứu hoá sinh – sinh lý cây thuốc”. Công trình này là cơ sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ƣu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc. Yatsenko đã đƣa ra đƣợc giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dƣợc liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “Giá trị cây thuốc”. Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nƣớc Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khoẻ của con ngƣời.
Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp ngƣời đọc tìm đƣợc loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lƣợng đã đƣợc định sẵn (Trần Thị Lan, 2005). Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dƣợc dụng thực vật cấp sinh lý học”. Cuốn sách này giới thiệu tới ngƣời đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, sinh hoá của chúng, công dụng, cách phối hợp các loài cây thuốc treo từng địa phƣơng nhƣ “Giang Tô tỉnh thực vật dƣợc tài chí”, “Giang Tô trung dƣợc danh thực đồ khảo”, “Quảng Tây trung dƣợc trí”. Năm 1968, một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam, Trung Quốc đã xuất bản cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc”.
Mendelsohn, 1989 đã căn cứ vào giá trị sử dụng của lâm sản ngoài gỗ để phân thành 5 nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn đƣợc, keo dán và nhựa, thuốc nhuộm và ta nanh, cây cho sợi, cây làm thuốc. Ông cũng căn cứ vào thị trƣờng tiêu thụ để phân lâm sản ngoài gỗ thành 3 nhóm: Nhóm bán trên thị trƣờng, nhóm bán ở địa phƣơng và nhóm sử dụng trực tiếp bởi ngƣời thu hoạch. Nhóm 3 thứ ba thƣờng chiếm tỷ trọng rất cao nhƣng lại chƣa tính đƣợc giá trị. Theo Mendelsohn chính điều này đã làm cho lâm sản ngoài gỗ trƣớc đây bị lu mờ và ít đƣợc chú ý đến Phan Văn Thắng, 2002).
de Beer - một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lƣơng thế giới - khi nghiên cứu về vai trò và thị trƣờng của lâm sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho ngƣời dân sống trong khu vực vùng núi nơi có phân bố thảo quả nhằm xoá đói giảm nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội vùng núi và bảo tồn phát triển tài nguyên rừng. Về nhu cầu thị trƣờng của thảo quả là rất lớn, chỉ tính riêng ở Lào, hàng năm xuất khẩu khoảng 400 tấn sang Trung Quốc và Thái Lan. Đây là công trình nghiên cứu tổng kết về vai trò thảo quả đối với con ngƣời, xã hội cũng nhƣ tình hình sản xuất buôn bán và dự báo thị trƣờng, tiềm năng phát triển của thảo quả (Phan Văn Thắng, 2002). Theo Falconer, 1993, hầu hết mọi ngƣời đều thừa nhận lâm sản ngoài gỗ nhƣ một yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội miền núi.
Ở Ghana, lâm sản ngoài gỗ có vai trò cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng,. đồng thời cũng chiếm gần 90% nguồn thu nhập của các hộ gia đình (Phan Văn Thắng, 2002). Năm 1996, Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại Viện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc”. Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc ở Trung Quốc, một trong số đó là thảo quả.
Nội dung đề cập là: Tên khoa học, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công dụng và thành phần hoá học của thảo quả (Phan Văn Thắng, 2002). Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L. Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây thuộc chi Amomum trong đó có thảo quả. Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân loại của thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của thảo quả.
Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, 4 trồng, chăm sóc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán thảo quả trên thế giới (Phan Văn Thắng, 2002). Nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Brazil, Colombia, Equado, Bolivia, Thái Lan, Inđonesia, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc đã và đang nghiên cứu các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, trong đó có các loại rau, quả rừng mang lại nhiều dinh dƣỡng, nhằm nâng cao đời sống của ngƣời dân bản địa và bảo vệ đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng địa phƣơng (Everlyn Mathias, 2001). Để thuận tiện cho việc nghiên cứu C. Chandrasekhanran (1995) - một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của FAO, đã chia lâm sản ngoài gỗ thành 4 nhóm chính nhƣ sau: A.
Cây sống và các bộ phận của cây. Động vật và các sản phẩm của động vật. Các sản phẩm đƣợc chế biến (các gia vị, dầu, nhựa thực vật. Các dịch vụ từ rừng.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng rừng nhiệt đới không chỉ phong phú về tài nguyên gỗ mà còn đa dạng về các loại thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ. Khi nghiên cứu đa dạng lâm sản ngoài gỗ trong phạm vi một bản ở Thakek, Khammouan, Lào ngƣời ta đã thống kê đƣợc 306 loài lâm sản ngoài gỗ trong đó có 223 loài làm thức ăn (Phan Văn Thắng, 2002). Theo ƣớc tính của Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 loài trong số 250.000 loài cây đƣợc sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hoá.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nƣớc đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nguồn dƣợc liệu hoặc qua các chất chiết xuất từ dƣợc liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006). Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc 1.