ĐẶT VẤN ĐỀ Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng.000 loài thực vật bậc cao, Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh vật cao, trong đó có rất nhiều loài đã và đang có triển vọng đƣợc sử dụng làm thuốc. Nếu nhƣ tính đến năm 1952 các nhà thực vật học Pháp công bố trên toàn Đông Dƣơng có 1.350 loài cây thuốc thuộc 160 họ thực vật khác nhau thì năm 1996, Võ Văn Chi đã công bố hệ thực vật làm thuốc ở Việt Nam có 3. Đến năm 2005, theo số liệu của Viện Dƣợc liệu, hệ thực vật Việt Nam có 3.948 loài thuộc 307 họ của 9 ngành và nhóm của thực vật bậc cao, thực vật thấp và nấm. Theo số liệu mới nhất, năm 2012 Võ Văn Chi đã công bố trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt nam” với gần 4.700 loài thực vật làm thuốc.
Đến nay số lƣợng cây thuốc mà chúng ta biết đã tăng đáng kể. Đây có thể coi là nguồn dƣợc liệu tiềm năng, cần đầu tƣ nghiên cứu trong thời gian tới. Việt Nam với 54 dân tộc khác nhau, sinh sống ở các vùng miền khác nhau. Mỗi dân tộc lại có một phong tục, tập quán, tri thức bản địa, kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh riêng.
Nhƣng hiện nay cây thuốc đã đƣợc các nhà Y học coi là rất quan trọng trong YHCT và không thể thiếu. Chính vì thế Nhà Nƣớc Việt Nam đã khuyến khích ngành y tế và ngƣời dân trong cả nƣớc nghiên cứu, phát triển, trồng và sử dụng cây thuốc một cách hiệu quả và bền vững trong công tác chăm sóc sức khỏe con ngƣời, cũng nhƣ trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Trong nhiều năm qua đã có rất nhiều công trình điều tra, nghiên cứu, phát triển, trồng hái và sử dụng cây cỏ làm thuốc rộng khắp các vùng miền. Dù vậy, việc nghiên cứu, phát triển, bảo tồn và sử dụng cây cỏ làm thuốc ở Việt nam đã và đang đứng trƣớc nhiều thách thức, nhiều cây bị cạn kiệt và đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng khi khai thác quá mức.
Ngoài ra còn do tình trạng chặt phá rừng, làm nƣơng rãy và các công trình dân sự ở một số miền núi, đến bây giờ ở một số vùng vẫn còn có thói quen khai thác nguồn cây thuốc sẵn có từ rừng tự nhiên 1 mang về dùng và còn bán cho các thƣơng lái buôn bán thuốc nam, nhƣ thế làm cho nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc ngày một nhanh chóng, thậm chí một số loài cây có giá trị cao, quý hiếm có thể bị tuyệt chủng. Chính vì vậy, cần thiết phải có các hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây dƣợc liệu do chính ngƣời dân sinh sống gần rừng thực hiện, nhằm sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc trong tƣơng lại. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu thuộc huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa đƣợc đánh giá là khu bảo tồn (KBT) có giá trị về khoa học, kinh tế - xã hội và du lịch sinh thái, là khu vực có đa dạng sinh học rất cao trong hệ thống các khu rừng đặc của Việt Nam, là kho dự trữ các nguồn gen động thực vật quí hiếm của nƣớc ta, đa dạng về thành phần loài, giá trị sử dụng, phổ dạng sống và đặc biệt là giá trị bảo tồn. Qua nghiên cứu đã xác định đƣợc 894 loài, 575 chi và 143 họ thuộc 6 ngành thực vật cao có mạch.
Trong đó có trên 398 loài cây làm thuốc, chiếm tỷ lệ cao nhất 44,52%. Đã có một số nghiên cứu điều tra cơ bản của các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế,. nhƣng nhìn chung, các công trình chỉ dừng lại ở mức độ khảo sát phát hiện thành phần loài, điều tra, đánh giá, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng, chứ chƣa đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc. Xuất phát từ những căn cứ đã trình bày trên, tôi đã lựa chọn đề tài: Nghiên cứu thực trạng phát triển và khai thác, sử dụng cây thuốc tại KBTTN Pù Hu, tỉnh Thanh Hóa.
2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Trong tất cả các nền văn hóa của nhân loại từ thời thƣợng cổ đến nay, con ngƣời vẫn luôn coi trọng cây cỏ nhƣ là một nguồn thuốc chủ yếu để chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì mức độ sử dụng cây thuốc càng ngày càng cao, ở các quốc gia đang phát triển có tới 80% dân số thế giới dựa vào nền y học cổ truyền để đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu, trong đó chủ yếu là từ cây cỏ. Trung Quốc là nƣớc đông nhất thế giới và có nền y học dân tộc phát triển, nên trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài đƣợc sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc.
Hàng năm, nƣớc này tiêu thụ hết 0,7 – 1,0 triệu tấn dƣợc liệu, sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,4 tỷ USD vào năm 19866. Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trƣờng Âu – Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là hơn 43 tỷ USD. Nhật Bản, năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dƣợc liệu, tƣơng đƣơng 50 triệu USD. Theo Ban Thƣ Ký Công ƣớc về đa dạng sinh học, doanh số toàn cầu của các sản phẩm dƣợc thảo ƣớc tính tổng cộng có đến 80 tỷ USD vào năm 2002 và chủ yếu ở thị trƣờng Châu Mỹ, Châu Âu và Châu Á.
Vì vậy quốc gia nào cũng có chƣơng trình điều tra và tái điều tra nguồn tài nguyên dƣợc liệu trong kế hoạch bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của đất nƣớc mình. Đối với những nƣớc vốn có nền y học nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ và các nƣớc thuộc khu vực Đông Nam Á vẫn thƣờng xuyên có những kế hoạch điều tra và tái điều tra với quy mô, phạm vi và mục tiêu khác nhau. Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật đƣợc dùng làm thuốc, khoảng 2500 cây thuốc đƣợc buôn bán trên thế giới. Có ít nhất 2000 cây đƣợc sử dụng làm thuốc ở châu Âu, nhiều nhất là Đức 1543 loài.
Châu Á có khoảng 1700 loài ở Ấn Độ, 5000 loài ở Trung Quốc. Trong đó, có đến khoảng 90% thảo dƣợc thu hái hoang dại. Do đòi hỏi phát triển nhanh hơn sự gia tăng sản lƣợng, các nguồn cây thuốc tự nhiên bị tàn phá ƣớc tính 3 khoảng 50% đã bị thu hái cạn kiệt. Hiện nay, chỉ có vài trăm loài đƣợc trồng, 100- 250 loài ở Trung Quốc, 130-140 ở Châu Âu, 20-50 loài ở Ấn Độ.
Những phƣơng pháp trồng truyền thống đang dần đƣợc thay thế bởi các phƣơng pháp công nghiệp ảnh hƣởng tai hại đến chất lƣợng của nguồn nguyên liệu này. May thay, những vấn đề này đã đƣợc cộng đồng thế giới quan tâm. Năm 1993 WHO (Tổ chức Y tế thế giới), IUCN (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế) và WWF (Quỹ hoang dã thế giới) ban hành các hƣớng dẫn cho việc bảo vệ và sự khai thác cây thuốc đƣợc cân bằng với sự cam kết của các tổ chức. Thấy đƣợc tầm quan trọng của việc phải bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc, và đáp ứng lời kêu gọi của các tổ chức trên, rất nhiều nƣớc trong đó có các nƣớc đang phát triển với những điều kiện kinh tế xã hội gần tƣơng đồng với nƣớc ta cũng đã xây dựng những Vƣờn bảo tồn cây thuốc.
Hiện nay, ƣớc tính có khoảng 2000 vƣờn thực vật trên toàn thế giới, phần lớn nằm ở Tây Âu (500 vƣờn) và Bắc Mỹ (350 vƣờn). Châu Á có khoảng 300 vƣờn thực vật, chủ yếu ở Trung Quốc và Ấn Độ. Nhƣ vƣờn thuốc Chelsea (Anh) do Hội Bào Chế thuốc thành lập năm 1673, với mục đích nghiên cứu giá trị các loại cây thuốc và tăng cƣờng nghiên cứu về thực vật ứng dụng trong y học. Trong suốt thế kỷ 17, nơi đây trở thành một trong những trung tâm quan trong nhất về thực vật và trao đổi cây trên thế giới.
Đây là vƣờn thực vật cổ nhất nƣớc London và là vƣờn lâu đời thứ 2 ở nƣớc Anh, nhƣng vẫn đáp ứng đầy đủ chức năng nghiên cứu khoa học, bảo tồn cây cỏ, giáo dục. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, công tác nghiên cứu về cây thuốc đƣợc tiến hành từ rất sớm, gắn liền với tên tuổi của các danh y nổi tiếng nhƣ: Tuệ Tĩnh hay Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỷ XIV). Ông còn để lại tài liệu “Nam dƣợc trị nam nhân”. Về việc chữa trị, ông chú trọng trong việc phòng bệnh hơn chữa bệnh, ngoài việc sử dụng thuốc nam để phục vụ rộng rải mọi tầng lớp nhân dân, ông đã vận dụng trung y một cách sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam.
Ông còn viết sách bằng chữ nôm cho mọi ngƣời dễ nhớ, dễ hiểu, có thể tự học thuốc và học cách chữa bệnh 4 bằng các dƣợc liệu có sẵn. Tuệ Tĩnh là ngƣời có công rất lớn trong việc mở rộng y học đại chúng, nêu cao tinh thần dân tộc độc lập và ý thức tự lực cánh sinh. Và đã đƣợc nhân dân tôn ông là tổ sƣ của ngành dƣợc Việt Nam. Với chủ trƣơng kết hợp chặt chẽ giữa y học hiện đại và y học cổ truyền của dân tộc, đặc biệt là tri thức bản địa của các cộng đồng ngƣời dân tộc trong sử dụng cây cỏ làm thuốc bồi bổ cơ thể và thuốc chữa bệnh ngay sau hòa bình lập lại, chúng ta đã có nhiều nỗ lực, đầu tƣ điều tra, nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc nhằm khai thác, sử dụng phục vụ sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Hiện nay cây thuốc ở Việt Nam đang đƣợc khai thác để bán với lƣợng lớn cho các công ty dƣợc trong nƣớc và xuất khẩu, đặc biệt là theo đƣờng tiểu ngạch sang Trung Quốc. Trong khối công nghiệp dƣợc, các nƣớc có 286 cơ sở sản xuất dƣợc phẩm, đang sản xuất 1.294 loại dƣợc phẩm đƣợc sản xuất từ nguyên liệu thực vật, sử dụng 435 cây cỏ (năm 2000). Năm 1998, tổng công ty dƣợc liệu Việt Nam xuất khẩu 13 triệu USD, trong đó hoạt chất từ cây thuốc chiếm 74%. Tiềm năng cung cấp dƣợc liệu có thể đạt 500 – 8000 tỷ đồng.
Hiện nay nhiều loại dƣợc liệu bị khai thác bừa bãi , không có kế hoạch, thu hái theo kiểu tận thu, làm mất khả năng tái sinh tự nhiên của chúng, nên đã bị cạn kiệt nhanh chóng.