CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm chính sách hôn nhân và gia đình 1. Khái niệm chính sách Chính sách là thuật ngữ phổ biến trong khoa học chính trị, khoa học chính sách công. Đồng thời cũng thường được sử dụng trong các văn kiện, văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Các chính sách hỗ trợ trong việc ra quyết định chủ quan thường hỗ trợ quản lý cấp cao với các quyết định phải dựa trên thành tích tương đối của một số yếu tố và do đó thường khó kiểm tra khách quan. Thuật ngữ này có thể áp dụng cho chính phủ, các tổ chức và nhóm tư nhân, cũng như các cá nhân. Các lệnh điều hành của tổng thống, chính sách quyền riêng tư của công ty và các quy tắc của quốc hội về trật tự là các ví dụ về chính sách. Chính sách khác với các quy tắc hoặc luật pháp.
Mặc dù luật pháp có thể buộc hoặc cấm hành vi (ví dụ: luật yêu cầu nộp thuế đối với thu nhập), chính sách chỉ hướng dẫn hành động đối với những hành vi có nhiều khả năng đạt được kết quả mong muốn. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa của chính sách. Theo David Easton năm 1953: “Chính sách bao gồm một chuỗi quyết định và các hành động trong đó phân phối thực hiện các giá trị”. Theo Smith năm 1976 “Khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn có chủ định hành động, thay vì những tác động của các lực lượng có quan hệ với nhau”.
Và cũng có một số quan niệm cho rằng chính sách là những hành động ứng sử của chủ thể đối với đối tượng nhằm đạt được mục tiêu chính. Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thực hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan đến nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội. “Những vấn đề cơ bản của chính sách công” của tác giả Nguyễn Hữu Hải. Khái niệm của Chính sách hôn nhân và gia đình Chính sách hôn nhân và gia đình là chính sách do nhà nước ban hành bao gồm những quy định về hôn nhân và gia đình với mục tiêu điều chỉnh các vấn đề phát 14 sinh trong mối quan hệ hôn nhân và gia đình.
Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc. Khái niệm hôn nhân Tại khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quy định hôn nhân là: “quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”. Hôn nhân là một sự hợp nhất được công nhận về mặt văn hóa giữa những người, được gọi là vợ chồng. Hôn nhân tạo ra quyền lợi và nghĩa vụ giữa họ, cũng như giữa họ và con cái của họ, và giữa họ và gia đình của người kia.
Tại khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, định nghĩa về gia đình là: “Tập hợp những người có gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng là phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của luật này”. Mục tiêu thực hiện chính sách pháp luật hôn nhân và gia đình của nước ta Việt Nam đã xác định mục tiêu thực hiện chính sách pháp luật về hôn nhân và gia đình nhằm tạo ra một môi trường ổn định và hạnh phúc cho các gia đình, đồng thời đảm bảo công bằng giới và bảo vệ quyền lợi của mọi thành viên trong xã hội. Qua đó, những mục tiêu cụ thể đã được đề ra như sau: Trước hết, mục tiêu của chính sách pháp luật là xây dựng và bảo vệ gia đình như một cộng đồng yên bình và hòa hợp, nơi mọi thành viên đều được tôn trọng và chăm sóc. Bằng cách này, mọi người sẽ cảm thấy an tâm và hạnh phúc trong môi trường gia đình của mình.
Tiếp theo, chính sách pháp luật cũng nhằm đảm bảo công bằng giới trong hôn nhân và gia đình. Điều này có nghĩa là phụ nữ và nam giới đều có quyền và trách 15 nhiệm bình đẳng trong hôn nhân và gia đình, không có sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính. Một mục tiêu quan trọng khác là phòng ngừa và giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến gia đình. Chính sách pháp luật cần tập trung vào việc ngăn chặn các vấn đề như bạo lực gia đình, ly hôn, và con cái bị bỏ rơi, đồng thời cung cấp hỗ trợ và giải pháp cho những gia đình gặp khó khăn.
Mục tiêu cuối cùng là tăng cường giáo dục và nhận thức về pháp luật về hôn nhân và gia đình trong cộng đồng. Điều này giúp mọi người hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình, từ đó thúc đẩy sự tuân thủ và thực thi pháp luật một cách hiệu quả. Tóm lại, mục tiêu của chính sách pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam là xây dựng và bảo vệ một môi trường gia đình yên bình và hạnh phúc, đồng thời đảm bảo công bằng giới và giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến gia đình một cách bài bản và hiệu quả. Vai trò của việc thực hiện chính sách hôn nhân và gia đình Trong thời gian qua với nhiều hoạt động khác nhau ở địa phương phải thực hiện việc thực hiện chính sách pháp luật hôn nhân và gia đình đã được cấp ủy Đảng, chính quyền chỉ đạo triển khai và tổ chức thực hiện rộng rãi đến các tầng lớp cán bộ, nhân dân, các văn bản chỉ đạo đã được ban hành, kiện toàn bộ máy tổ chức tuyên truyền ở cơ sở, nội dung, hình thức được đổi mới phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương từ đó việc nhận thức về pháp luật hôn nhân và gia đình được nâng lên từng bước, góp phần nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật chung và đưa pháp luật vào cuộc sống.
Các văn bản chính sách pháp luật về hôn nhân và gia đình đã được triển khai thực hiện khá đồng bộ và đầy đủ, đối với nước Việt Nam. Như chúng ta đã biết thì gia đình được coi là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người đây là những giá trị đã ăn sâu vào văn hóa của nước ta, ngoài ra đây còn là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt đây cũng là nội dung trong nhiều chính sách của nhà nước và pháp luật về hôn nhân. 16 Căn cư dựa trên các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và 2014 chúng ta có thể thấy nhà nước và pháp luật đã đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn phát huy truyền thống và những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân gia đình.
Nhà nước xây dựng nên Luật hôn nhân và gia đình và theo đó các quy định của luật phải góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc bền vững. Tại khoản 1 nêu trên có nói về quy định của pháp luật đề ra những chính sách quyết định phát triển việc thực hiện quy định về hôn nhân và gia đình tốt hơn. Ví dụ như ở một số vùng dân tộc thiểu số người dân còn xuất hiện phong tục tậ quán lạc hậu và cổ hũ như tảo hôn, bắt vợ. Đây đều là những hành vi trái với quy định mà pháp luật hôn nhân đề ra, tại vì những hành vi đó xâm phạm tới quyền tự do hôn nhân của con người nên chúng tôi cho rằng pháp luật đề ra các chính sách, biện pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện cho việc thực hiện các nguyên tắc trong hôn nhân ngày càng tiến bộ hơn và xây dựng văn hóa văn minh hơn nữa.
Tại khoản 2 về việc quản lý nhà nước về hôn nhân, theo chúng tôi pháp luật quy định hoàn toàn hợp lý, bởi phát huy sức mạnh để thực hiện quy định và chính sách pháp luật vào thực tiễn tốt hơn thì cần bắt đầu từ việc thống nhất quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình và theo đó các cấp theo phân công của cấp trên sẽ có nhiệm vụ và quyền hạn thực hiện theo quy định của pháp luật đề ra. Tại khoản 3 nêu như trên chúng ta thấy pháp luật quy định về giáo dục, vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các thành viên của mình và mọi công dân thực hiện các chính sách theo quy định về hôn nhân. đây là quy định hết sức cần thiết bởi chỉ đề ra quy định mà không vận động giáo dục thì rất khó đi vào thực hiện trên thực tế. Bởi vậy nên thực hiện hoạt động này để mọi người biết và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.
Nội dung thực hiện chính sách hôn nhân và gia đình tại Việt Nam Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng và hạnh phúc là một trong những chiến lược quan trọng của chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh xã hội đang có nhiều biến đổi, cùng với quá trình hiện đại hóa và hội nhập, nhiều vấn đề đang đặt ra về việc thực hiện các quy định pháp luật hôn nhân và gia đình, nhất là ở các địa phương vùng miền núi và dân tộc thiểu số. Thực hiện Chính sách Pháp luật về Hôn nhân và gia đình là một trong những yêu cầu quan trọng nhằm đảm bảo các yêu cầu tuân thủ luật pháp về hôn nhân và gia đình trong đời sống xã hội.