mở đầu cho sự xuất hiện của các thuật ngữ khoa học xã hội về lịch sử, văn học, giáo dục… Số lượng các thuật ngữ này phát triển nhờ con đường vay mượn gián tiếp hoặc trực tiếp, cải tiến, sáng tạo mới. Đến giai đoạn 1930 - 1945 là thời kỳ hoàn thiện và hiện đại hóa tiếng Việt, thời kỳ mà thành tựu phát triển của tiếng Việt trong 15 năm có thể sánh ngang với hàng trăm năm của người thì thuật ngữ khoa học xã hội và nhân văn, tiếp đó là sự xuất hiện của hệ thống thuật ngữ khoa học tự nhiên, công nghệ, thương mại… cũng dần được phát triển ngày càng mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Đây cũng là thời kỳ nở rộ thuật ngữ của các chuyên ngành khoa học và k thuật. 12 Hà Quang Năng, [57] cho rằng lịch sử tiếng Việt phát triển qua bốn giai đoạn: Sự xuất hiện của người Pháp và sự ra đời của chữ quốc ngữ, sau cách mạng tháng Tám năm 1945, những năm 60 của thế kỉ XX, sau năm 1985.
Những dấu mốc này đã ghi dấu ấn mạnh mẽ cho sự phát triển của tiếng Việt cũng như của các hệ thuật ngữ trong tiếng Việt. Trong công trình này, tác giả đã xem xét thuật ngữ trên cơ sở thống kê, phân tích ngữ liệu và chỉ ra các phương thức xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt. Nguyễn Đức Tồn trong chuyên khảo Thuật ngữ học tiếng Việt hiện đại[68], đã chỉ ra tiến trình nghiên cứu lịch sử thuật ngữ trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu khái niệm và các tiêu chuẩn của thuật ngữ. Đồng thời, tác giả áp dụng lý thuyết điển mẫu vào việc chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt.
Công trình của tác giả là một bảng tổng kết thành tựu nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới, ở Việt Nam và một số hệ thuật ngữ chuyên ngành. Có thể nói, những phân tích, lý giải về thuật ngữ tiếng Việt của công trình nghiêm túc này còn mang tính thời sự, chứa đựng những nét nổi bật, có ý nghĩa định hướng về học thuật trong nghiên cứu lý luận thuật ngữ cũng như trong việc hệ thống hóa các hệ thuật ngữ chuyên ngành của ngôn ngữ. Thành tựu của cuốn sách là những gợi ý vô cùng thiết thực với việc triển khai nội dung luận án ở lĩnh vực thuật ngữ quân sự. Nghiên cứu thuật ngữ còn được đề cập đến trong nhiều luận án tiến sĩ như: Thuật ngữ khoa học kĩ thuật xây dựng trong tiếng Việt [40], Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thương mại Việt - Nhật [29], So sánh đặc điểm cấu tạo hình thức và ngữ nghĩa của thuật ngữ tài chính - kế toán - ngân hàng trong tiếng Anh và tiếng Việt [70], Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt [54], Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt (trên tư liệu thuật ngữ Toán-Cơ-Tin học-Vật lý)[34], Khảo sát hệ thuật ngữ tin 13 học-viễn thông tiếng Việt [64].
Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa hệ thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt [35], Đối chiếu thuật ngữ âm nhạc Việt - Anh [16],. Trên cơ sở nghiên cứu thuật ngữ ở một chuyên ngành khoa học, những công trình trên đã làm rõ đặc điểm cấu tạo và các phương thức định danh thuật ngữ thuộc chuyên môn hẹp. Kết quả của những công trình trên là sự gợi ý cho chúng tôi trong nghiên cứu thuật ngữ với tư cách là lớp từ chuyên môn khoa học mang tính đặc thù. Tình hình nghiên cứu thuật ngữ quân sự ở Việt Nam Như trên đã trình bày, bối cảnh ngôn ngữ của tiếng Việt từ 1930 đến nay trong điều kiện của một đất nước ròng rã hơn nửa thế kỉ trải qua các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, với đường lối chiến tranh nhân dân và nền quốc phòng toàn dân, hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt đã trở thành một lớp từ vựng khá đặc biệt, có một đời sống vô cùng độc đáo, sinh động không chỉ trong giao tiếp quân sự mà cả trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân.
Tuy vậy, những công trình nghiên cứu về thuật ngữ quân sự tiếng Việt có tính chuyên sâu ở Việt Nam xuất hiện khá muộn và cũng có thể nói là… hiếm hoi. Trong suốt một thời gian dài, từ khi hệ thuật ngữ khoa học kĩ thuật ra đời 1930 [57], [68], [66] cho đến tận 1985, mới có một cuốn từ điển giải thích về thuật ngữ quân sự, đó là Từ điển giải thích thuật ngữ quân sự tiếng Việt của Cục Khoa học quân sự với 1500 mục từ. Đến năm 2007, Trung tâm từ điển bách khoa Quân sự, Bộ Quốc phòng chỉnh lí, bổ sung, sửa chữa và xuất bản thành cuốn Từ điển thuật ngữ Quân sự với 2500 mục từ. cả hai cuốn từ điển này, về cấu trúc vĩ mô, hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt được chia thành 4 nhóm đề mục lớn là: thuật ngữ quân sự chung, thuật ngữ quân sự binh chủng hợp thành, thuật ngữ quân sự các quân - binh chủng và thuật ngữ quân sự các ngành chuyên môn quân sự.
Trong mỗi nhóm đề mục nói trên, các đơn vị 14 thuật ngữ được sắp xếp theo trật tự ngữ âm. Về cấu trúc vi mô, cấu trúc mỗi mục từ bao gồm 3 phần: 1. Định nghĩa khái niệm thuật ngữ. Giải thích định nghĩa, tức là phần giải thích mở rộng, dẫn giải trong thực tế để giúp người đọc hiểu thêm về những chỗ còn trừu tượng hay khó hiểu trong nội dung khái niệm đã được định nghĩa.
Lấy ví dụ hay dẫn chứng trong thực tiễn lịch sử (ở những trường hợp cần thiết) về đối tượng định danh của thuật ngữ quân sự. Năm 1996, Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự, Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam cho ấn hành cuốn sách đồ sộ: “Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam”[73] với 5100 mục từ. Đây thực sự là cuốn từ điển bách khoa thư về quân sự chứ không phải một công trình chuyên nghiên cứu biên soạn về thuật ngữ nên ngoài việc giải thích các thuật ngữ quân sự, cuốn sách cũng tập hợp cũng giải thích cả các danh pháp quân sự, địa danh quân sự, sự kiện quân sự v.v… Sau này, ở một số lĩnh vực chuyên môn quân sự có tính chuyên môn hoá cao như pháo binh, không quân, hải quân… do nhu cầu công tác, nhiều đơn vị, tổ chức trong quân đội cũng đã cố gắng biên soạn những cuốn từ điển thuật ngữ quân sự dùng riêng cho chuyên ngành mình như: Từ điển phòng không của Quân chủng phòng không, Từ điển pháo binh của Bộ tư lệnh Pháo binh,. Về mặt lý luận, thuật ngữ quân sự tiếng Việt lần đầu tiên được đưa vào giảng dạy như một môn học cơ sở ngành tại Trường Đại học Ngoại ngữ Quân sự từ những năm 1982 - 1983 với tập bài giảng của các giảng viên: Dương Kỳ Đức, Vũ Quang Hào.
Năm 2014, tác giả Nguyễn Trọng Khánh đã biên soạn cuốn giáo trình “Thuật ngữ quân sự tiếng Việt”[45], HVKHQS (lưu hành nội bộ), gồm 3 chương, đi từ những khái niệm cơ bản đến các đặc trưng của thuật ngữ quân sự tiếng Việt (về nguồn gốc, cấu tạo, ý nghĩa và phương thức biểu đạt - đặc trưng về ngữ dụng) và các vấn đề về chuẩn hoá và sử dụng thuật ngữ quân sự trong biên - phiên dịch và giao tiếp quân sự. Kế thừa thành tựu của 15 các tác giả đi trước, giáo trình đã lý giải và chỉ ra những đặc điểm về kích thước, cấu tạo, nguồn gốc, đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ dụng của hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt với tư cách là một lớp từ vựng mang tính chuyên biệt đặc thù. Đặc biệt, tác giả rất chú ý đến những yêu cầu khi sử dụng thuật ngữ quân sự tiếng Việt trong thực tiễn hoạt động quân sự, trong công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên môn quân sự, phiên - biên dịch quân sự và nghiên cứu biên soạn các loại từ điển thuật ngữ quân sự. Đồng thời, tác giả còn cung cấp một số lượng không nhỏ các đơn vị của hệ thống thuật ngữ quân sự tiếng Việt trong cuốn “Những thuật ngữ quân sự thường dùng” (cuốn sách tham khảo được biên tập dùng làm tài liệu bổ trợ cho giáo trình Thuật ngữ quân sự tiếng Việt).
Đây là những đơn vị của hệ thuật ngữ quân sự được sử dụng một cách thường xuyên, có tần suất sử dụng cao trong hoạt động chuyên môn quân sự như huấn luyện s n sàng chiến đấu, huấn luyện chuyên môn quân sự, sinh hoạt quân sự, trong phiên dịch, biên dịch và giao tiếp quân sự. Hệ thống lý luận và hệ thống ngữ liệu cụ thể trong những giáo trình, tài liệu trên đây thật sự là những cơ sở lý luận và nguồn ngữ liệu thiết thực vô cùng quý báu đối với chúng tôi khi nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt. Cùng với hệ thống giáo trình, tài liệu giảng dạy, trong Việt ngữ học cũng có một số ít công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, bài báo khoa học… đề cập đến hệ thuật ngữ quân sự trong tiếng Việt. Trong số đó phải kể đến công trình luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Quang Hào: Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt: đặc điểm và cấu tạo thuật ngữ [31].
Luận án bước đầu tìm hiểu đặc điểm của thuật ngữ quân sự và các mẫu cấu tạo thuật ngữ quân sự trong tiếng Việt. Có thể nói, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về cấu tạo của thuật ngữ quân sự tiếng Việt. 16 Có thể nhận thấy nghiên cứu thuật ngữ quân sự tiếng Việt ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào việc biên soạn từ điển, định nghĩa khái niệm đối tượng quân sự, xem xét các mặt cấu tạo, ngữ nghĩa của thuật ngữ, xác định các con đường hình thành thuật ngữ quân sự nhằm mục đích chuẩn hóa để sử dụng phù hợp với giao tiếp quân sự. Như vậy, hệ thuật ngữ quân sự trong tiếng Việt hiện đại cũng đã thật sự được chú ý nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau.
Bên cạnh việc biên soạn các loại từ điển chuyên ngành phục vụ trực tiếp công tác chuyên môn và giao tiếp quân sự, việc nghiên cứu lí luận về thuật ngữ cũng khá đa dạng. Từ việc biên soạn các giáo trình, tài liệu giảng dạy đến các bài báo khoa học và nghiên cứu chuyên sâu về hệ thuật ngữ dưới nhiều góc độ, từ vấn đề khái niệm cho đến cấu trúc từ vựng - ngữ pháp, các đặc trưng ngữ nghĩa và cả ngữ dụng, vấn đề chuẩn hoá thuật ngữ v.