phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn đƣợc triển khai trong ba chƣơng : Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về tƣ duy nghệ thuật và quá trình sáng tác thơ của Chử Văn Long Chƣơng 2: Cái tôi trữ tình và cảm hứng chủ đạo trong thơ Chử Văn Long Chƣơng 3: Biểu tƣợng và ngôn ngữ trong thơ Chử Văn Long 7 NỘI DUNG Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƢ DUY NGHỆ THUẬT VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC THƠ CỦA CHỬ VĂN LONG 1. Một số vấn đề lý luận về tƣ duy nghệ thuật 1. Khái niệm tƣ duy Tƣ duy là một thuật ngữ có tính chất mở với một nội hàm tƣơng đối rộng. Tƣ duy là phạm trù liên quan đến lính vực triết học, tâm lý học,… trong đó có lĩnh vực nghệ thuật.
Trong Từ điển triết học của M.Iudin có định nghĩa về tƣ duy nhƣ sau: “Tƣ duy là một hoạt động nhận thức lý tính của con ngƣời. khí quan của tƣ duy chính là bộ óc ngƣời với một hệ thống tinh vi gần 16 tỷ tế bào thần kinh” [59, tr. Tƣ duy không chỉ là một sản phẩm xã hội hay chỉ là sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm có tính tổng hòa của quá trình lịch sử nhân loại. Tƣ duy là kết quả phát triển của vật chất tự tổng hợp qua hàng vạn, hàng triệu năm.
Sự ra đời của tƣ duy chính là bằng chứng về sự xuất hiện của con ngƣời. Bởi vậy, có thể định nghĩa: “Con ngƣời là một động vật có tƣ duy”. Tƣ duy (Pensée) là toàn bộ những hoạt động tâm lý của con ngƣời, chỉ có con ngƣời mới có, đó là đời sống trí tuệ của con ngƣời. Để hiểu rõ hơn về khái niệm tƣ duy ta tìm hiểu trong quan hệ của nó với các thuật ngữ khác: Tƣ duy và ý thức, tƣ duy và tƣ tƣởng, tƣ duy và lý trí, tƣ duy và ngôn ngữ, tƣ duy và lôgic… Tƣ duy đƣợc phân biệt với ý thức (conscience).
Nói đến ý thức là nói đến sự “phản ánh” hiện thực của hoạt động tâm lý. Hay nói đúng hơn, ý thức là tƣ duy ở trạng thái tĩnh, và tƣ duy là ý thức ở trạng thái động, tƣ duy là hành động nhận thức của con ngƣời. Tƣ duy phân biệt với trí tuệ, trí thông minh (intelligence). Ở một mức độ nào đó, có những con vật có trí thông minh mặc dù chúng không có tƣ duy.
8 Tƣ duy và lí trí (raison) không phải là một. Nói đến lí trí là nói đến cái lôgic có tính nguyên tắc của nhận thức. Nói đến tƣ duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tƣ tƣởng và tình cảm, cảm xúc và lí trí nhằm mục đích nhận thức. Tƣ tƣởng (Idée) hay còn gọi là quan niệm tƣ tƣởng, vừa là kết quả vừa là xuất phát điểm của tƣ duy.
Quan hệ con ngƣời với con ngƣời, con ngƣời với xã hội, con ngƣời với hoàn cảnh sống… là những mối quan hệ chủ yếu tạo nên quan niệm tƣ tƣởng ở mỗi con ngƣời. Tƣ tƣởng, do đó, mang một nội dung quyền lợi, một nội dung tình cảm nào đó. Tƣ tƣởng mang tính chất dân tộc, đoàn thể, quốc gia, tính giai cấp… nghĩa là mang tính chủ quan hơn so với tƣ duy. Tƣ tƣởng nằm ở phạm trù nội dung, tƣ duy nằm ở phạm trù phƣơng pháp.
“Đặc trƣng của tƣ duy là phản ánh các mối quan hệ của con ngƣời đối với thế giới khách quan, quan hệ con ngƣời với con ngƣời và quan hệ giữa các sự vật, hiện tƣợng. Truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng phƣơng tiện ngôn ngữ. Đó là toàn bộ các chức năng nhận thức của tƣ duy”[53,tr.Lê nin: “Cái quan trọng đối với tƣ duy là cái mà con ngƣời chƣa biết đến”. Nói đến tƣ duy là nói đến những hoạt động của bộ óc ngƣời ở trạng thái sống động của nó.
Tƣ duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của các tế bào não. Đó là một quá trình xử lý lƣợng thông tin do các khí quan cảm giác thu nhận đƣợc. Nói đến “sự sống” trong vận động tƣ duy chính là nói đến cơ sở sinh lý của tƣ duy. Yếu tố “sống” đó sẽ tạo cho tƣ duy một thuộc tính quan trọng, đó là sự trao đổi tinh thần có tính chất giao tiếp, tính chất “cảm ứng” “giao cảm” giữa ngƣời với ngƣời.
Bởi vậy, giao tiếp ngôn ngữ là một giao tiếp có tính bề ngoài, còn trao đổi tinh thần, giao lƣu tƣ tƣởng và tình cảm là bản chất của hoạt động tƣ duy. Tƣ duy là một “trạng thái bên trong của vật chất” (Plêkhanôp) nhƣng chỉ có ở vật chất đặc biệt, phát triển ở trình độ cao, tức là ở đầu óc con ngƣời. Mọi quan niệm cho rằng tƣ duy, tinh thần hay ý niệm tồn tại độc lập, bên ngoài đầu óc con ngƣời, đều là quan niệm tƣ duy phi chủ thể, hoặc là tạo ra một chủ thể siêu nhiên đối lập với con ngƣời. Tƣ duy định hƣớng đến sự thành thục, khi sự thành thục đã có thì tƣ duy kết thúc.
9 Điều này giống với sự nhận thức, khi sự nhận thức chƣa có thì cần phải tƣ duy, khi nhận thức đã có thì tƣ duy kết thúc. Phƣơng tiện để diễn đạt tƣ duy chính là ngôn ngữ, ngôn ngữ là công cụ của tƣ duy, là cái vỏ vật chất của tƣ tƣởng. Không có ngôn ngữ thì tƣ duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính chất bản năng trƣớc hiện thực. Không có tƣ duy thì ngôn ngữ chỉ là tiếng kêu bập bẹ của trẻ sơ sinh mà thôi.
Tƣ duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tinh xảo, ngôn ngữ tạo điều kiện cho tƣ duy đi sâu vào bản chất sự vật hơn. Tƣ duy là hoạt động nhận thức của con ngƣời. Hoạt động đó ở mỗi thời đại, mỗi dân tộc có những đặc trƣng phổ biến, tạo thành các phƣơng pháp tƣ duy. Phƣơng pháp tƣ duy phản ánh những bƣớc tiến của nhận thức ở từng thời đại.
Về phƣơng diện triết học, căn cứ vào khả năng bao quát hiện thực và trình độ hệ thống hóa, có thể chia phƣơng pháp tƣ duy thành hai loại hình: 1) Phƣơng pháp tƣ duy siêu hình; 2) Phƣơng pháp tƣ duy biện chứng. Phƣơng pháp tƣ duy triết học dù có ƣu thế đến đâu, bao quát đến đâu thì cũng không thể thay thế cho các phƣơng pháp tƣ duy của các ngành khoa học cụ thể, chính xác. Cho nên, chúng ta có một con đƣờng phân loại thứ hai là căn cứ vào các tập hợp của hình thái ý thức xã hội. theo cách phân loại này chúng ta có các nhóm lớn: 1) Tƣ duy khoa học; 2) Tƣ duy nghệ thuật; 3) Tƣ duy tôn giáo.
Đối với tƣ duy nghệ thuật, chúng ta có tƣ duy âm nhạc, tƣ duy hội họa, tƣ duy thơ ca… Trong đó, tƣ duy thơ ca có ảnh hƣởng chi phối và phổ biến hơn cả. Quan niệm về tƣ duy nghệ thuật, tƣ duy thơ 1. Tƣ duy nghệ thuật Tƣ duy nghệ thuật là phƣơng thức sáng tạo của con ngƣời trong lĩnh vực nghệ thuật. Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này, tuy nhiên chúng tôi thống nhất với quan điểm của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học, Nhà xuất bản Giáo dục 2006 và ý kiến của tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tƣ duy thơ hiện đại Việt Nam, Nhà xuất bản 10 Đại học Quốc gia Hà Nội 2012.
Trong Từ điển thuật ngữ Văn học có nhận định: Tƣ duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con ngƣời hƣớng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật. Bản chất của nó do phƣơng thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tƣợng quy định. Sự chuyên môn hóa lối tƣ duy này tạo thành đặc trƣng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó. Tƣ duy nghệ thuật là một phƣơng thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ.
Phƣơng tiện của nó là các biểu tƣợng, tƣợng trƣng có thể trực quan đƣợc. Cơ sở của nó là tình cảm. Dấu hiệu bản chất của tƣ duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định, ƣớc lệ, nó hƣớng tới việc nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên - cái có thể có, có thể cảm nhận, theo xác suất khả năng và tất yếu. Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật thƣờng mang tính phổ quát hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt.
Bằng trí tƣởng tƣợng sáng tạo vốn là chất xúc tác của hoạt động tƣ duy nghệ thuật, nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng rõ các bộ phận còn bị che khuất của thực tại, lấp đầy các “lỗ hổng chƣa biết”. Tính cấu trúc của tƣ duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua các dấu hiệu phát sinh đồng thời, phát hiện các mối liên hệ mới chƣa đƣợc nhận ra… Trên cơ sở nghiên cứu và khái quát những vấn đề về tƣ duy nghệ thuật, PGS.TS Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tƣ duy thơ hiện đại Việt Nam đã bàn về vấn đề tƣ duy nghệ thuật nói chung và tƣ duy thơ nói riêng, tác giả đã đƣa đến kết luận: “Tƣ duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tƣợng trực quan, là sự hình tƣợng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan. Đó là điểm phân biệt đầu tiên của tƣ duy nghệ thuật với tƣ duy khoa học.57] Tƣ duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của ngƣời sáng tạo. Lênin: “Chúng tôi không hề coi nhiệm vụ của tƣ duy là làm biến hóa tồn tại, nhiệm vụ của nó chỉ là sắp xếp tồn tại về mặt hình thức”[61, tr.
Nhƣ vậy tồn tại là nội dung của tƣ duy nhƣng “hình thức” của nó thuộc về chủ thể sáng tạo. Đối với tƣ duy khoa học thì “hình thức” ấy đƣợc khách quan hóa theo quy luật vận động của khái niệm và quan hệ lôgic giữa các khái 11 niệm. Đối với tƣ duy nghệ thuật “hình thức” ấy là sự biểu hiện trực tiếp của quan niệm về vũ trụ, nhân sinh và trình độ văn hóa của ngƣời sáng tạo. Tƣ duy nghệ thuật khác với tƣ duy khoa học ở chỗ “tƣ tƣởng tình cảm không chỉ là năng lƣợng của tƣ duy mà còn là đối tƣợng nhận thức của tƣ duy…” [53,tr.