Nghiên cứu về thơ chơi của Tản Đà từ góc nhìn tư duy nghệ thuật

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu văn học việt nam thơ chơi của tản đà từ góc nhìn tư duy nghệ thuật, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

113
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thơ chơi của Tản Đà và nghệ thuật thơ ca

Thơ chơi của Tản Đà là một hiện tượng độc đáo trong văn học Việt Nam, thể hiện sự kết hợp giữa yếu tố trữ tình và yếu tố trào lộng. Tản Đà, một trong những nhà thơ lớn của nền văn học giao thời, đã mang đến một làn gió mới cho thơ ca với những tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân. Thơ chơi không chỉ đơn thuần là một thể loại mà còn là một cách thể hiện tâm hồn, cảm xúc của tác giả. Qua đó, người đọc có thể cảm nhận được sự phong phú và đa dạng trong tư duy nghệ thuật của Tản Đà.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của thơ chơi Tản Đà

Thơ chơi Tản Đà được hiểu là một thể loại thơ mang tính giải trí, thể hiện sự tự do trong sáng tác. Đặc điểm nổi bật của thơ chơi là sự kết hợp giữa cảm xúc chân thật và yếu tố hài hước, trào lộng. Tác phẩm của Tản Đà thường phản ánh những khía cạnh đời sống, từ tình yêu đến những cuộc vui chơi, tạo nên một bức tranh sinh động về con người và xã hội.

1.2. Vị trí của thơ chơi trong sự nghiệp Tản Đà

Thơ chơi đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Tản Đà. Nó không chỉ là một phần không thể thiếu trong bộ sưu tập tác phẩm của ông mà còn là cầu nối giữa thơ ca truyền thống và hiện đại. Qua thơ chơi, Tản Đà đã thể hiện được cái tôi cá nhân, sự lãng mạn và những trăn trở của mình về cuộc sống.

II. Những thách thức trong việc nghiên cứu thơ chơi của Tản Đà

Nghiên cứu thơ chơi của Tản Đà gặp phải nhiều thách thức, từ việc xác định khái niệm đến việc phân tích nội dung và hình thức. Thơ chơi không chỉ đơn thuần là một thể loại mà còn là một hiện tượng văn hóa, đòi hỏi người nghiên cứu phải có cái nhìn sâu sắc và toàn diện. Việc thiếu tài liệu và công trình nghiên cứu chuyên sâu về thơ chơi cũng là một trở ngại lớn.

2.1. Khó khăn trong việc xác định khái niệm thơ chơi

Khái niệm thơ chơi vẫn còn gây tranh cãi trong giới nghiên cứu. Nhiều nhà phê bình cho rằng thơ chơi chỉ là một thể loại phụ, trong khi những người khác lại xem nó như một phần quan trọng của văn học. Sự thiếu đồng thuận này gây khó khăn trong việc xây dựng một khung lý thuyết vững chắc cho nghiên cứu.

2.2. Thiếu tài liệu nghiên cứu chuyên sâu

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về Tản Đà, nhưng số lượng tài liệu chuyên sâu về thơ chơi vẫn còn hạn chế. Điều này khiến cho việc phân tích và đánh giá thơ chơi của Tản Đà trở nên khó khăn hơn, đòi hỏi người nghiên cứu phải tự tìm tòi và khai thác từ nhiều nguồn khác nhau.

III. Phương pháp nghiên cứu thơ chơi của Tản Đà hiệu quả

Để nghiên cứu thơ chơi của Tản Đà một cách hiệu quả, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp phân tích văn bản, phương pháp lịch sử xã hội và phương pháp liên ngành sẽ giúp người nghiên cứu có cái nhìn toàn diện hơn về tác phẩm. Việc kết hợp các phương pháp này sẽ tạo ra một bức tranh rõ nét về thơ chơi và vị trí của nó trong sự nghiệp Tản Đà.

3.1. Phân tích văn bản trong nghiên cứu thơ chơi

Phân tích văn bản là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu thơ chơi. Qua việc phân tích ngôn ngữ, hình ảnh và biểu tượng trong thơ Tản Đà, người nghiên cứu có thể hiểu rõ hơn về tư duy nghệ thuật và cảm xúc của tác giả. Điều này giúp làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt của thơ chơi.

3.2. Kết hợp phương pháp liên ngành

Việc áp dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu thơ chơi sẽ giúp mở rộng góc nhìn và tạo ra những kết nối mới. Các yếu tố văn hóa, xã hội và lịch sử sẽ được xem xét để hiểu rõ hơn về bối cảnh sáng tác của Tản Đà, từ đó làm nổi bật giá trị của thơ chơi trong văn học Việt Nam.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu thơ chơi Tản Đà

Nghiên cứu thơ chơi của Tản Đà không chỉ mang lại những hiểu biết mới về tác phẩm mà còn có thể ứng dụng vào giảng dạy văn học. Việc đưa thơ chơi vào chương trình giảng dạy sẽ giúp học sinh, sinh viên tiếp cận văn học một cách sinh động và thú vị hơn. Kết quả nghiên cứu cũng có thể góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy văn học

Việc đưa thơ chơi vào giảng dạy sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về sự đa dạng của văn học Việt Nam. Thơ chơi không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật và nhân văn. Điều này sẽ giúp học sinh phát triển tư duy phản biện và khả năng cảm thụ văn học.

4.2. Kết quả nghiên cứu và giá trị văn học

Kết quả nghiên cứu thơ chơi của Tản Đà sẽ góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam. Những phát hiện mới về thơ chơi sẽ giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về tác phẩm và vị trí của Tản Đà trong lịch sử văn học. Điều này cũng mở ra hướng nghiên cứu mới cho các thế hệ sau.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu thơ chơi Tản Đà

Nghiên cứu thơ chơi của Tản Đà là một lĩnh vực còn nhiều tiềm năng. Những kết quả đạt được từ nghiên cứu không chỉ giúp làm sáng tỏ giá trị của thơ chơi mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu văn học sau này. Tương lai của nghiên cứu thơ chơi sẽ phụ thuộc vào sự quan tâm và đầu tư của các nhà nghiên cứu cũng như sự phát triển của văn học Việt Nam.

5.1. Tương lai của nghiên cứu thơ chơi

Tương lai của nghiên cứu thơ chơi Tản Đà sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của văn học và nhu cầu tìm hiểu của độc giả. Việc tiếp tục khai thác và nghiên cứu sẽ giúp làm rõ hơn những giá trị nghệ thuật và nhân văn trong thơ chơi.

5.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Định hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc so sánh thơ chơi của Tản Đà với các tác giả khác trong cùng thời kỳ. Điều này sẽ giúp làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt của thơ chơi và vai trò của Tản Đà trong nền văn học Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ văn học việt nam thơ chơi của tản đà từ góc nhìn tư duy nghệ thuật

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu trong ca dao, trong những bài thơ nổi tiếng để “nhại” lại nhằm đem đến một tiếng cười sảng khoái, hài hước. Bài thơ sau nhại bài “Hai sắc hoa ti gôn” của T.Kh: “Nếu biết rằng em sắp lấy chồng Anh về bắt vịt nhổ sạch lông Tiết canh làm được vài ba đĩa Mượn rượu cho nguôi vết thương lòng Nếu biết rằng em đã lấy chồng Dại gì mà nghĩ “Thế là xong!” Email cứ viết, phone cứ gọi Cũng có ngày em… ly dị chồng” [57; 590], (Dẫn theo cuốn sách của tác giả Nguyễn Bá Thành) Những bài thơ này không nhằm chế giễu, cười nhạo mỉa mai đối tượng mà chủ yếu đem đến cho người đọc một không khí mới khác với văn bản gốc, từ đó tạo nên tính chất giải trí nhẹ nhàng. Có loại thơ chơi không phải mang tính dân gian, tính truyền miệng, mà là có tên tuổi tác giả, có tuyên ngôn của tác giả. Nhà Thơ Hữu Ước có viết lời đề từ cho tập thơ chơi của mình: “Ngẫm mình mỏng sức nông tài Thơ chơi làm tặng con vài ba câu” Thơ chơi chính là nơi để thi nhân làm nhẹ đi những nỗi đau nhân tình.

Ở trong thơ, tạm thời thi nhân quên đi những bể dâu cuộc đời để đắm mình trong thế giới của nghệ thuật. Với khía cạnh này, thơ chơi đã hoàn thành “sứ mệnh” chức năng của nó, đó là chức năng giải trí. Ở góc độ khác, thơ chơi lại thể hiện cái nhìn 16 sắc sảo của tác giả về cuộc đời. Thi nhân viết để “chơi”, “chơi văn ngâm chán lại chơi trăng”… nhưng cái “chơi” ấy không chỉ là cái sự chơi bời, hưởng thụ đơn thuần, hay là cái nhìn thờ ơ mà “chơi” ở đây đôi khi lại là “nỗi đau thế sự” được thi nhân gói ghém cẩn thận trong lớp vỏ ngôn từ.

Như vậy, ta có thể thấy, thơ chơi không chỉ dừng lại ở sự giải trí, mà nó thể hiện một cách sống, một kiểu hoạt động trí tuệ của tác giả. Thơ chơi không chỉ xuất hiện như một loại sáng tác, một “tiểu thể loại”, một “chủng loại”, mà nó như là một thứ gia vị, một hoạt chất mới có rất nhiều trong các sáng tác thơ hiện nay. Từ các nhà thơ nổi tiếng đến các nhà thơ mới xuất hiện, “thơ chơi và chơi thơ như là một nét hào hoa của thi nhân, thi sĩ thời nay” [57; 593]. Thơ chơi đã phá vỡ cái không khí diễn ngôn, đại ngôn, đại tự sự của những chính khách mà đi vào trạng thái hồn nhiên đời thường để thực sự giao lưu, trao đổi một cách thân thiên và hiệu quả, bỏ qua mọi cản trở có tính ngoại giao, xã giao để hòa nhập, thậm chí hòa tan cái tôi vào trong một cái ta có tính chất phường hội.

Và ở đó thơ chơi mang màu sắc của lễ hội carnaval rất rõ. Con người, cả tác giả và độc giả đều bị cuốn vào một không gian thân mật, thậm chí suồng sã. Và nhờ đó, thơ được kéo lại gần hơn với cuộc đời. Không chỉ có thi nhân mới làm được thơ, người có học mới đọc được thơ mà thơ chơi “mở cửa tự do” cho mọi đối tượng.

Chính vì thế, một chức năng quan trọng của thơ chơi chính là giải trí, sự giải trí vừa là đối với tác giả, vừa là đối với độc giả. Nhưng ngay trong sự “dường như không nghiêm túc” ấy ẩn chứa những thái độ nghiêm túc, đáng suy nghĩ về cuộc đời, nhân sinh, về các mối quan hệ. Do đó, thơ chơi là một bài học có ý nghĩa sâu sắc, nhưng mang màu sắc châm biếm nhẹ nhàng về các giá trị trong cuộc sống để từ đó, độc giả có thể tự “soi gương” chính mình. Thơ chơi không đả kích hay châm biếm sâu cay đối tượng, mà thơ chơi chỉ như một tiếng cười hóm nhẹ, thể hiện thái độ vô tư, hài hước của tác giả trước cuộc đời.

Vì thế, thơ chơi nằm trên ranh giới của thơ trào phúng và thơ trữ tình. Trào lộng và trữ tình là một nét tiêu biểu của tính cách Việt Nam đã được biểu hiện trong văn học dân tộc. “Trữ tình là tình cảm chứa chất, con người trữ tình là con người sống giàu tình cảm” [56, 246]. Trong khi đó, trào phúng là tiếng cười 17 bông đùa, khôi hài, giải trí.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành, “về phương diện mĩ học, cái cười được coi là khoái cảm của thắng lợi, khoái cảm của trí tuệ” [56, 255]. Thơ chơi Tản Đà mang hai yếu tố quen thuộc của tính cách Việt, thơ ca Việt. Tuy nhiên, trong thơ chơi, yếu tố trữ tình đậm đặc hơn yếu tố trào lộng. Như vậy, thơ chơi - những vần thơ khoáng hoạt mang chức năng chính là giải trí với tính uy – mua và giễu nhại nhẹ nhàng không nhằm lật đổ đối tượng mà chủ yếu gợi cho người đọc một cách nhìn nhận khác về cuộc sống, nhân sinh.

Thơ chơi mang mục đích chủ yếu là giải tỏa tâm lý của người cầm bút, họ dạo chơi trong câu chữ để tìm kiếm chính mình. Người đọc tìm đến với thơ chơi cũng mong muốn được hưởng thụ và đắm chìm trong một cuộc chơi thực sự. Thơ chơi trong văn học dân gian và trong văn học bác học truyền thống Trong xã hội đấu tranh giai cấp, đấu tranh tư tưởng, người ta thường xếp thơ trào phúng vào loại thơ chống phong kiến, thơ phê phán hiện thực xã hội… Những bài dân ca trữ tình, những lời ghẹo, những câu hát giao duyên của trai gái dưới ánh trăng, bên cối gạo đều được xếp vào văn học dân gian. Theo chúng tôi, đây chính là những nhân tố tiền đề của thơ chơi.

Rõ ràng, dân gian ta xưa rất có ý thức hưởng thụ cuộc sống, mượn thơ để thỏa sức “chơi”. Cuộc đời thực với quá nhiều vất vả đắng cay đã thôi thúc họ phải “dạo chơi” trong những vần thơ để tạm quên đi nỗi nhọc nhằn, vì thế, những vần thơ người lao động làm ra mang tính giải trí đơn thuần, để gây cười là chính. Tác giả Nguyễn Bá Thành khẳng định: “Có thể nói trữ tình và trào lộng là hai khả năng, hai nét tiêu biểu của tính cách Việt Nam” [57; 585] Trong văn hóa dân gian, số lượng các truyện tiếu lâm, truyện cười và thơ trào lộng chiếm một tỉ lệ lớn. Những vần thơ chơi dân gian ấy đã phản ánh nét sinh hoạt và tư duy, tâm lí của người Việt.

Bên cạnh đó, văn học dân gian còn có những bài ca dao mang màu sắc chế giễu nhẹ nhàng: “Chồng người bể Sở sông Ngô Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần” 18 Người xưa không ném cái nhìn khinh bỉ, miệt thị hay chế giễu những người đàn ông hèn yếu, mà lời thơ nhẹ nhàng chỉ như lời nhắc nhở khéo léo. Với những hình ảnh so sánh tương phản độc đáo giữa “chồng em – chồng người” và thủ pháp nói quá “rang ngô cháy quần, sờ đuôi con mèo”, dân gian đã khắc họa hết sức ấn tượng bức chân dung những anh chồng yếu đuối, lười nhác. Những bài ca dao đã thể hiện cái nhìn phóng khoáng, hài hước của tác giả dân gian về đủ loại đối tượng trong cuộc sống, từ người vợ, người chồng đến bà già, ông lão, thậm chí là cậu học trò: “Học hành ba chữ lem nhem Thấy gái thì thèm như chửa thèm chua” Dân gian không cay nghiệt, không đả phá, lời thơ như chơi, như bông đùa ấy đã tạo nên tiếng cười sảng khoái nơi người thưởng thức. Bên cạnh đó, văn học dân gian còn mang nội dung hài hước, cười những người phụ nữ thiếu đoan chính: “Hai tay cầm hai quả hồng, Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.

Đêm nằm vuốt bụng thở dài, Thương chồng thì ít, nhớ trai thì nhiều” Các cặp hình ảnh tương phản đối lập “Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai” hay “Nhớ chồng thì ít, nhớ trai thì nhiều” đã làm bật lên tiếng cười. Những vần ca dao này đã thể hiện xu hướng vui chơi giải trí, một trò tiêu khiển khá tiêu biểu đối với người dân Việt Nam. Nó tạo nên tiếng cười giải trí, mua vui. Những tiếng cười như thế rất cần trong cuộc sống lao động vốn đã nhọc nhằn cực khổ của họ.

Những lời ca cất lên trong môi trường lao động nhọc nhằn, trong hoàn cảnh sống khó khăn giống như một dòng nước tươi mát, tưới đẫm tâm hồn của người dân cùng khổ. Chính những vần ca ấy đã giúp họ tạm quên đi nỗi cực khổ để hòa mình vào bầu không khí tươi vui, lạc quan. Và phải chăng đây là môi trường đầu tiên hình thành nên những vần thơ chơi, thơ vui. “Những lời nói bông đùa như vậy, Kho tàng ca dao người Việt đã thống kê được 54 bài”.

[56, 256] 19 Bên cạnh đó còn có những lời thơ châm biếm nhẹ nhàng hoặc phê phán những thói hư tật xấu của con người trong xã hội, giúp con người nhận ra những thói hư tật xấu của mình để từ đó sửa đổi. Lời thơ không nặng nề mà vẫn mang giá trị giáo dục, cảnh báo sâu sắc. Chính vì thế đây là một ưu thế giúp những vần thơ ấy có sức sống và sức lưu truyền mạnh mẽ trong nhân dân: - Ầu ơ… Gió mùa thu mẹ ru con ngủ Năm canh dài cha nhậu đủ cả năm canh. Đặc biệt có những lời ca dao hiện đại lên án những tệ nạn xã hội: cờ bạc, đỏ đen, lô đề… một cách nhẹ nhàng: Sáng trăng chiếu trải hai hàng Bên anh “xập xám” bên nàng “tiến lên” “Quan nhất thời, dân vạn đại” – câu nói đã khẳng định sự trường tồn, sức sống bền bỉ của những thành quả lao động của “dân”.

Văn học dân gian trải qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn tồn tại và phát triển. Bản thân dòng văn học dân gian ấy đã tự định hình, hình thành một lối thơ chơi riêng, độc đáo và hấp dẫn, trở thành những vần thơ của vạn nhà. Nói như vậy không có nghĩa là thơ chơi chỉ xuất hiện trong văn học dân gian mà thơ chơi còn hình thành như một “tiểu thể loại” của văn học bác học truyền thống. Trong xã hội phong kiến, với dòng văn học chính thống quan trường, thơ chơi bị hạn chế bởi quan niệm muôn thuở: “Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo”.

Ngay từ thế kỉ XV, xu hướng thơ chơi đã manh nha xuất hiện trong những sáng tác và quan niệm của hội Tao Đàn. Bên cạnh lòng tự hào dân tộc, thơ của hội Tao Đàn cũng thể hiện tình yêu với thiên nhiên, các nhà thơ trong hội vịnh thiên nhiên theo những đề tài nhất định như vịnh bốn mùa, vịnh 12 tháng, vịnh năm canh, vịnh đào nguyên bát cảnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu thơ chơi của Tản Đà từ góc nhìn nghệ thuật" mang đến cái nhìn sâu sắc về phong cách thơ của Tản Đà, một trong những nhà thơ nổi bật của văn học Việt Nam. Bài viết phân tích các yếu tố nghệ thuật trong thơ của ông, từ ngôn ngữ, hình ảnh đến cảm xúc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự độc đáo và giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Đặc biệt, tài liệu này không chỉ cung cấp kiến thức về thơ Tản Đà mà còn mở ra những góc nhìn mới về tư duy nghệ thuật trong văn học.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Tìm hiểu phong cách thơ Tản Đà, nơi bạn sẽ khám phá sâu hơn về phong cách sáng tác của ông. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ thơ trên báo nhân dân và tập san giai phẩm nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn tổng quát về thơ ca trong bối cảnh hiện đại. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ văn học thơ Hữu Thỉnh nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật sẽ giúp bạn so sánh và đối chiếu giữa các phong cách thơ khác nhau, từ đó làm phong phú thêm hiểu biết của bạn về nghệ thuật thơ ca Việt Nam.