Chương 1, chúng tôi đi tìm hiểu Những cơ sở lý luận nghiên cứu phong cách thơ Tản Đà. Ở phần giới thuyết về phong cách nghệ thuật, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến phong cách tác giả và hình tượng cái tôi trữ tình trong phong cách tác giả. Từ vấn đề giới thuyết, chúng tôi tìm hiểu về tác giả Tản Đà đặt trong bối cảnh nền văn học giao thời những năm đầu thế kỷ XX. Cuối cùng, người viết đi đến khẳng định vai trò tiêu biểu nhất mà Tản Đà đến với văn học nước nhà là một nhà thơ có phong cách độc đáo, tài hoa – một nhà thơ giao thời.
Chúng tôi triển khai chương này bằng các đề mục sau: 1. Giới thuyết về Phong cách nghệ thuật 1. Nền văn học giao thời và tác gia giao thời tiêu biểu: Tản Đà 1. Tản Đà - Một phong cách thơ Tiếp theo, ở Chương 2, chúng tôi triển khai tìm hiểu Phong cách thơ Tản Đà về mặt nội dung qua hình tượng cái tôi trữ tình độc đáo của thi nhân.
Đó là hình tượng của một cái tôi đa diện: ngông, mộng, say, đa tình, giang hồ,. đậm chất nhà Nho tài tử. Hình tượng cái tôi trữ tình đó làm nên diện mạo cho một tác 13 giả giao thời, đồng thời cũng chứa đựng những mâu thuẫn, phức tạp của một giai đoạn văn học đầy biến động: văn học giao thời. Chúng tôi triển khai chương 2 bằng các đề mục sau: 2.1 Nhìn chung về hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Tản Đà 2.2 Cái tôi Ngông nghênh, Mộng và Say 2.3 Cái tôi đa tình của bậc tài tử 2.4 Cái tôi giang hồ yêu cái đẹp 2.5 Cái tôi Tản Đà - sản phẩm độc đáo của nền văn học buổi giao thời.
Ở chương cuối cùng của luận văn, Chương 3, chúng tôi đi tìm hiểu Những phương thức thể hiện phong cách thơ Tản Đà trên ba nội dung lớn: Thể thơ, Ngôn ngữ và Giọng điệu. Phần thể thơ, sau khi nhận định chung về các thể loại thơ Tản Đà, chúng tôi tìm hiểu bốn đóng góp lớn của Tản Đà về phương diện thể loại. Phần Thể thơ được chúng tôi triển khai với những mục như sau: 3.1 Nhìn chung về các thể thơ Tản Đà 3.2 Dân tộc hóa thơ Đường luật (Đường luật khẩu ngữ thi) 3.3 Trở về với các thể loại thơ ca dân tộc 3.5 Mở đường cho thơ Mới Phần ngôn ngữ thơ Tản Đà, chúng tôi tìm hiểu những đóng góp của Tản Đà trên ba phương diện: từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp. Ở mỗi phương diện chúng tôi cố gắng tìm hiểu những cái mới – cũ đan cài làm nên phong cách của tác giả giao thời.
Đóng góp nổi bật nhất về phương diện từ vựng thơ Tản Đà đó là Sự đan xen giữa ngôn từ tượng trưng, ước lệ với ngôn từ đời thường, khẩu ngữ; về phương diện ngữ âm là sự Cách tân nhạc điệu trên nền nhạc điệu thơ ca truyền thống; còn về phương diện ngữ pháp đó là Sự trùng khít giữa dòng thơ với câu thơ và 14 tính trực giác trong tư duy thơ Tản Đà. Phần này được chúng tôi triển khai thành ba đề mục như sau: 3.1 Sự đan xen giữa ngôn từ tượng trưng, ước lệ với ngôn từ đời thường, khẩu ngữ 3.2 Cách tân nhạc điệu trên nền nhạc điệu thơ ca truyền thống 3.3 Sự trùng khít giữa dòng thơ với câu thơ và tính trực giác trong tư duy thơ Tản Đà Phần giọng điệu thơ Tản Đà, chúng tôi tìm hiểu hai giọng điệu chính làm nên giọng điệu đặc trưng của Tản Đà và triển khai thành hai đề mục chính như sau: 3.1 Giọng Ngông nghênh phóng túng đầy hóm hỉnh, hài hước 3.2 Giọng cảm thương ưu ái Ngoài phần chính văn ra, luận văn còn có phần phụ lục gồm hai phần: phần một là những bảng số liệu người viết thống kê trong quá trình thực hiện đề tài; phần hai với mục đích soi sáng thêm cho những nhận định ít nhiều có tính chất chủ quan của các nhà nghiên cứu, nhất là chủ quan của chúng tôi, người viết có dụng ý tập hợp và trình ra những ý kiến do chính Tản Đà phát biểu về thơ văn, nghệ thuật. Đó là những quan niệm văn chương được Tản Đà phát biểu bằng thơ và bằng văn xuôi. CƠ SƠ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH THƠ TẢN ĐÀ 1.
Giới thuyết về Phong cách nghệ thuật Phong cách nghệ thuật là nét đặc sắc, độc đáo của chủ thể sáng tạo văn học thể hiện trong sự thống nhất giữa hình thức và nội dung. Theo Lại Nguyên Ân trong Từ điển thuật ngữ văn học thì “Phong cách là những nét chung, tương đối bền vững của hệ thống hình tượng, của các phương thức biểu hiện nghệ thuật, tiêu biểu cho bản sắc sáng tạo của một nhà văn, một tác phẩm, một khuynh hướng văn học, một nền văn học nào đó” [3, tr 254]. Còn Phan Ngọc thì cho rằng “Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử và chứa đựng một giá trị lịch sử, có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, hay một tác giả” [77, tr 9]. Như vậy, nói đến phong cách là muốn nhấn mạnh đến cá tính của chủ thể sáng tạo trong tác phẩm.
Theo Phương Lựu thì “phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú” [70, tr 89]. Còn Nguyễn Đăng Mạnh trong Nhà văn, tư tưởng và phong cách gắn phong cách với cá tính nhà văn. Ông quan niệm “Văn chương là một hình thái ý thức xã hội có đặc trưng riêng. Đây là lĩnh vực cần đến năng khiếu và tài nghệ, cần cá tính và phong cách” [72, tr 15].
Rồi sau đó, trong Nhà văn Việt Nam hiện đại: chân dung và phong cách, ông chỉ ra phong cách “phụ thuộc vào những thói quen tâm lý và những sở trường riêng của nhà văn” [73, tr 24]. Như vậy, dù bề mặt từ ngữ có thể chưa trùng khít, và dù cách tiếp cận có khác nhau, nhưng vấn đề nội hàm khái niệm phong cách trong lí luận văn học 16 dường như đã có một sự thống nhất nhất định. Các nhà nghiên cứu đều đồng loạt nhấn mạnh đến nét riêng, sự khu biệt, bản sắc của một cá nhân, một tác phẩm, hay một thời đại khi nói về phong cách. Có thể nói, phong cách là sự biểu hiện hoàn mỹ vào tác phẩm cái nhân cách, tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo.
Đây là một phạm trù quan trọng vào bậc nhất trong nghiên cứu văn học. Từ xa xưa, phương Tây cũng như phương Đông, đã có quan niệm: Phong cách là bản thân con người, hay nói ngắn gọn hơn, “văn như kỳ nhân”, văn tức là người. Nhưng cũng cần phải nói rõ hơn, phong cách một tác giả không giản đơn chỉ là tính độc đáo về đề tài, chủ đề, ngôn ngữ, thể loại mà còn là quy luật riêng của mỗi chủ thể sáng tạo nghệ thuật. Tính chất cá thể ở đó là vô cùng rõ nét.
Mỗi nhà văn trong quá trình sáng tác đều có cho mình một lựa chọn tiêu biểu. Điều đó đã hình thành nên những nét riêng biệt mà người ta có thể soi rọi vào đó để phân biệt tác giả này với tác giả khác, thời đại này với thời đại khác. Tuy nhiên, không phải sự lựa chọn tiêu biểu nào cũng tạo nên dấu ấn. Chỉ những chủ thể sáng tạo có năng lực và cá tính độc đáo mới làm nên một phong cách riêng cho chính mình.
Quan trọng hơn, việc “nhận diện” ra phong cách không thuộc về chủ thể sáng tạo mà thuộc về độc giả và cả những thước đo của thời gian. Trong văn học, phong cách là sự thống nhất chủ quan và khách quan trong quá trình sáng tác. Nhà văn bên cạnh việc vượt lên trên mọi sự mô phỏng giản đơn đối với tự nhiên còn phải vừa vượt lên trên cái tác phong, kiểu cách chủ quan của cá nhân mình. Có thể nói, phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật.
Nó làm bật lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ hay trong trào lưu văn học. Hiện đã có nhiều công trình lí thuyết trong và ngoài nước nghiên cứu về phong cách. Công trình Lí luận về phong cách (1968) của A. Sokolov đã khẳng định phong cách là một hiện tượng nghệ thuật, thể hiện quy luật của nghệ thuật, là phạm trù thẩm mỹ trong tất cả mọi nghệ thuật.
Bản chất của nó là sự thống nhất của mọi thành tố nghệ thuật theo những quy luật đặc thù. Đồng quan điểm với A. Likhashop trong Con người trong văn học Nga cổ và Thi 17 pháp văn học Nga cổ quan tâm đến phong cách như là “hệ thống hình thức và nội dung”, “là sự thống nhất của cái nhìn với các phương pháp nghệ thuật”. Theo ông, phong cách bao giờ cũng là sự thống nhất nghệ thuật, thống nhất xuyên suốt của hình thức tác phẩm và nội dung của nó.
Ở Việt Nam, phong cách học ra đời tương đối muộn. Các công trình về phong cách học rất ít. Đó là công trình Dẫn luận phong cách học của Nguyễn Thái Hòa, Viết về phong cách ngôn ngữ thì có các công trình Tu từ học của Đinh Trọng Lạc, Phong cách học tiếng Việt hiện đại của nhóm Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, Phong cách học và đặc điểm tu từ của Cù Đình Tú,… Các công trình phong cách nghệ thuật còn mang tính rải rác như quan niệm phong cách nghệ thuật của Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học, Nguyễn Khắc Sính trong Phong cách thời đại nhìn từ một thể loại văn học, Nguyễn Đăng Mạnh trong Nhà văn tư tưởng và phong cách, Phan Ngọc với Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều,… Xét về bản chất của phong cách, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng: phong cách trước hết phải là một dấu hiệu độc đáo, không lặp lại, đánh dấu phẩm chất thẩm mỹ riêng biệt của một hiện tượng hay một cá nhân văn học nào đó. Đó là sự sáng tạo, sự mới mẻ làm nên vẻ riêng biệt ít thấy ở hiện tượng văn học khác nhưng lại nhất quán, xuất hiện thường xuyên ở một hiện tượng văn học cụ thể.
Sự bền vững, nhất quán là cái cốt lõi, cái trong bản chất, còn trong quá trình triển khai thì phong cách lại đòi hỏi sự đa dạng và đổi mới.