Chương 1: “Giấc mộng báo chí” của Tản Đà Cùng với những “Giấc mộng con”, “Giấc mộng lớn”, Tản Đà còn có một giấc mộng khác, rất hiện thực chứ không phải chỉ là mây gió, trăng hoa hay những giai nhân, người đẹp nơi bồng lai tiên cảnh. Đó chính là giấc mộng báo chí. Giấc mộng ấy chiếm hầu hết sự nghiệp sáng tác của Tản Đà và là cách để ông mong muốn khẳng định, xác lập được vị trí xã hội mới của mình trong bối cảnh văn chương khoa cử truyền thống đã nhạt nhòa, không còn nhiều sức cuốn hút như trước. Việc Tản Đà dốc hết tâm sức vào báo chí cho thấy khát vọng rất lớn cũng như ý thức khá rõ ràng của ông về vai trò, sức mạnh của báo chí trong bối cảnh xã hội mới.
Để làm sáng tỏ nhận định này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát sự nghiệp báo chí của Tản Đà theo trục thời gian và những biến cố lớn trong cuộc đời, nhằm làm nổi bật và hiểu rõ hơn những phức cảm đa chiều trong tư tưởng cũng như sáng tác của Tản Đà. Con đường làm báo của Tản Đà Cuộc đời làm báo của Tản Đà là một hành trình có nhiều biến động, đứt gãy. Việc tái hiện toàn bộ quá trình này sẽ cho thấy những diễn biến phức tạp và đa chiều trong quan niệm, tư tưởng của nhà báo Tản Đà cũng như những biến thiên mang tính tất yếu của lịch sử văn học, báo chí phương Tây trong buổi đầu xâm nhập vào Việt Nam. Có thể khái quát chặng đường làm báo của Tản Đà theo 3 giai đoạn: * Khởi sự (từ năm 1913-1915) Đây là thời kỳ ngọn lửa đam mê báo chí trong ông bắt đầu hình thành và nhen nhóm.
Tản Đà có những sáng tác đầu tiên được đăng báo và nó là khởi đầu cho những thành công và cả những thất bại của ông sau này. Năm 1913, Tản Đà bắt đầu “bén duyên” với báo giới. Ông được Nguyễn Văn Vĩnh - một tri thức Tây học, cũng là cái tên có tiếng trong làng báo bấy 15 giờ mời làm cộng sự trên Đông Dương tạp chí. Những sáng tác của ông được in thành một mục riêng Một lối văn nôm, sau đổi thành mục Tản Đà văn tập.
Những bài báo của “ký giả” Tản Đà ngay lập tức chiếm được cảm tình của độc giả, tên tuổi của ông nhanh chóng có được tiếng vang trên văn đàn. Năm 1915, Tản Đà lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con gái một người tri huyện ở Hà Đông. Những tác phẩm của ông trên Đông Dương tạp chí vẫn tiếp tục là một “hiện tượng” và Tản Đà nhanh chóng có một lượng lớn độc giả hâm mộ. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản, sông Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.
Cần nói thêm rằng quyết định này xuất phát từ một sự kiện trong cuộc đời ông, đó là năm 1916, anh cả Nguyễn Tái Tích mất. Tản Đà mất đi chỗ dựa cả về vật chất và tinh thần, trong khi ông lại gánh trên vai trách nhiệm gia đình với vợ con. Tản Đà khi ấy bắt đầu phải tự ý thức rằng mình cần phải kiếm sống. Và tất nhiên, như một điều không thể khác, cái “cần câu cơm cơm” của Tản Đà chính là ngòi bút.
Tản Đà đến với báo chí trong hoàn cảnh đó và nó như một con đường đã được vạch sẵn. Tản Đà dường như không có sự lựa chọn nào khác. Ông đã dấn thân vào nó với một khát vọng, niềm đam mê vô tận của một người cầm bút. Ngược dòng thời gian một chút, Tản Đà hỏng khoa thi năm 1912, khi ấy ông mới 23 tuổi.
Đó là cái tuổi còn rất trẻ để tiếp tục sự nghiệp thi thố, học hành để lập thân, thành danh bằng con đường khoa cử. Nhưng lúc bấy giờ, khoa cử truyền thống cũng đã trở nên bèo bọt. Dư âm của cái cũ vẫn còn nhưng sức hấp dẫn của cái mới, của những luồng tư tưởng, văn hóa mới thâm nhập từ phương Tây cũng rất mạnh nên Tản Đà mới bộc lộ một thái độ ỡm ờ với lối nói úp úp mở mở rất… Tản Đà: 16 “Rủ nhau quang gánh với đời Mà cho thiên hạ chê cười cũng hay”. “Chê cười” là vì chắc chắn có người dèm pha cách ông đi trái với con đường cũ.
Nhưng cũng có người hưởng ứng, nên mới có chuyện “rủ nhau”, và nó hẳn là một thứ có ý nghĩa tích cực và có danh giá nên mới nói là “quang gánh với đời”, nên “chê cười” mà… vẫn hay. Hay cách nói ngông nghênh: “Còn trời, còn đất, còn non nước Còn có văn chương bán phố phường” Cũng biểu hiện một thái độ muốn thi thố, muốn thể hiện tài năng của mình ở một lĩnh vực mới và rõ ràng ông ý thức rất rõ được tài năng của mình nên mới dùng những mệnh đề so sánh rất lớn lao như: Còn trời/Còn đất/Còn non nước để đối với “Còn có văn chương bán phố phường”. Thế mới thấy văn chương trong cách nghĩ của Tản Đà không hề bèo bọt mà rất có giá và có một sức sống, sức mạnh nhất định, ngay cả khi vật đổi sao đời, đặt trong bối cảnh lúc bấy giờ là những biến thiên của bối cảnh xã hội nhiều biến động. Giấc mộng báo chí của Tản Đà rõ ràng không phải chỉ là ước mong có một chiếc cần câu cơm.
Hơn thế, nó là mộng ước được khẳng định mình bằng một thái độ tự tin và tự hào về tài năng của bản thân. Đó là lý do vì sao sau này, ông khước từ lời mời cộng tác của Nguyễn Văn Vĩnh cho tờ Trung Bắc Tân văn - hành động mà nhiều người cho là gàn, dở, nhưng thực chất là họ chưa có đủ “trình độ” để hiểu ông. Nguyễn Văn Vĩnh yêu cầu Tản Đà viết mỗi tháng 4 bài xã thuyết, 4 bài thơ. Tiền nhuận bút mỗi bài xã thuyết là mười lăm đồng, mỗi bài thơ là mười đồng.
Số tiền ấy với cảnh túng quẫn của Tản Đà không hề nhỏ. Nhưng ông đã dứt khoát từ chối cơ hội đầy hấp dẫn ấy. Lý do là bởi ông muốn “tự mình chủ trương một cơ quan ngôn luận”: “Cơ quan ngôn luận đó sẽ hoàn toàn thực hành những quan niệm về văn chương, sẽ 17 trình bày những lý tưởng của mình noi theo với quốc dân, chứ nếu mình viết giúp cho một cơ quan khác, thời mình chỉ là phụ thuộc vào cơ quan đó, lẽ tất nhiên những tư tưởng, quan niệm riêng về xã hội, văn chương, sẽ không thể làm theo như ý muốn của mình được. Vả lại ông Nguyễn Văn Vĩnh, lúc đó là một nhà văn ra đời trước, đã có tiếng, nếu tôi viết cho tờ báo ông thời dư luận của độc giả bên ngoài không khỏi cho tôi là đi theo để ăn cánh với ông.
Đó là một điều mà tôi kỵ nhất”. * Thời kỳ vinh hiển (1916-1926) Từ năm 1916 đến năm 1926 là những năm tháng rực rỡ và thành công nhất của Tản Đà. Ông lao vào sáng tác, viết văn, làm báo. Năm 1915, cuốn sách đầu tiên của Tản Đà được xuất bản, gây tiếng vang lớn, đó là tập thơ Khối tình con I.
Sau thành công đó, ông viết liền cuốn Giấc mộng con (cho in năm 1917) và một số vở tuồng: Người cá, Tây Thi, Dương Quý Phi, Thiên Thai (diễn lần đầu năm 1916 tại Hải Phòng). Năm 1917, Phạm Quỳnh sáng lập ra Nam Phong tạp chí, và bài của Tản Đà có trên tạp chí này từ số đầu tiên. Năm 1918, Phạm Quỳnh ca ngợi cuốn Khối tình con I và phê phán cuốn Giấc mộng con I, cả khen lẫn chê đều dùng những lời lẽ sâu cay, biến Tản Đà trở thành một hiện tượng trên văn đàn. Sau bài phê phán tư tưởng của "Giấc mộng con", Tản Đà thôi cộng tác với Nam Phong tạp chí và mở một số cuộc hội đàm để chống lại những lời phê phán đó, sự kiện này cũng được nhiều giới quan tâm.
Việc Tản Đà thôi cộng tác với Nam Phong tạp chí thể hiện rất rõ quan điểm, lập trường báo chí riêng của ông. Tản Đà không cậy cục, không nhún nhường ai và muốn làm báo theo cách riêng của mình. Đó không phải chỉ là nơi để ông có thể múa bút sáng tác, thể hiện tài năng của mình mà còn là cách để ông đánh dấu, khẳng định chỗ đứng của mình trong xã hội. Tản Đà không có quan niệm “lập thân” phải “lụy 18 thế”, một quan niệm của thời hiện đại nhưng không phải không tồn tại ngay từ buổi giao thời tranh tối tranh sáng với sự lập lờ giữa hai thế lực cũ và mới.
Bởi vậy, việc Phạm Quỳnh phê phán Tản Đà nghiễm nhiên là một lý do chính đáng để Tản Đà thôi cộng tác với Nam Phong tạp chí và tìm một chỗ đứng cho riêng mình. Từ 1919 tới 1921, Tản Đà viết một loạt sách; truyện thì có "Thần tiền", "Đàn bà Tàu" (1919); sách giáo khoa, luân lý thì có "Đài gương", "Lên sáu" (1919), "Lên tám" (1920), thơ thì có tập "Còn chơi" (1921). Thời kỳ này ông quen với một nhà tư sản nữa là ông Bùi Huy Tín, cùng nhau du lịch khắp Bắc, Trung kỳ và làm chủ bút Hữu thanh tạp chí. Đây là cơ quan ngôn luận của “Bắc kỳ công nông thương tương tế”.
Nhưng Tản Đà chỉ làm chủ bút được 6 tháng rồi từ chức vì bất đồng ý kiến với nhóm sáng lập về tôn chỉ, mục đích của tờ báo. Báo chí đến thời của Tản Đà nở rộ với nhiều xu hướng, quan điểm và cách thức tồn tại riêng. Có thể chia những người làm báo thời này làm ba dạng. Một là những người chủ trương dùng báo chí để làm cách mạng như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng.
Hai là những người làm báo dưới sự quản lý, điều hành của thực dân Pháp, thực chất là ôm chân chính quyền, xu nịnh để được lợi. Ba là những người làm báo kiểu Tản Đà. Tức là những người không thành danh trên con đường học hành, khoa cử nhưng lại ý thức rất rõ về tài năng của mình và coi nó như một con đường để lập công danh, ghi dấu tên tuổi của mình bằng sự nghiệp báo chí. Tương ứng với 3 loại người làm báo đó là 3 loại hình báo chí: Báo chí tư nhân, báo chí chính thống của chính quyền thực dân Pháp và báo chí của các hội, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội mà “Bắc kỳ công nông thương tương tế” và Hữu Thanh tạp chí như vừa kể trên là một ví dụ.