Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI TÒA ÁN 1. Khái quát về tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai Đầu tiên chúng ta cần xác định khái niệm tranh chấp đất đai,hiện nay có nhiều quan điểm, nhiều quy định nhiều các xác định về tranh chấp đất đai. Vậy TCĐĐ là gì? Trong tiếng Việt từ điển thì định nghĩa tranh chấp đất đai được hiểu là “tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa 2 bên”.
Theo cuốn Thuật ngữ Pháp lý thông dụngmà chúng tôi nghiên cứu được thì: “TCĐĐ: Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. Thực tiễn cuộc sống tồn tại nhiều loại tranh chấp khác nhau, tùy theo lĩnh vực phát sinh mà nó có thể được gọi là tranh chấp dân sự, tranh chấp thương mại hay tranh chấp hành chính… Trong quan hệ quản lý nhà nước về đất đai có thể phát sinh TCĐĐ, đó có thể là tranh chấp giữa cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với người sử dụng đất hoặc có thể là tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau. Trước khi Luật Đất đai 2003 ra đời, khái niệm “TCĐĐ” chưa được chính thức giải thích, mà chủ yếu là được hiểu thông qua các quy định của pháp luật về giải quyết TCĐĐ, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất. Thuật ngữ TCĐĐ đã được sử dụng theo Luật Đất đai năm 1987 (tại các điều luật là Điều 9, Điều 21, Điều 22), Luật Đất đai năm 1993 (Điều 38, Điều 40) nhưng chưa được giải thích chính thức, mà chủ yếu là chỉ được hiểu ngầm 7 qua các quy định của pháp luật về giải quyết TCĐĐ và các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất [36, tr.
Như vậy, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được định danh về loại chủthể: Chỉ là người sử dụng đất hay tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong quan hệ TCĐĐ? [36, tr. Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: TCĐĐ là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai… các chủ thể TCĐĐ chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai. Một quan điểm khác cho rằng: TCĐĐ là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một (hoặc những) thửa đất nhất định…TCĐĐ có thể bao hàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính [43, tr. Dưới góc độ là TCĐĐ theo quy định của Luật đất đai cũ thìTCĐĐ là mọi tranh chấp phát sinh trong quan hệ đất đai bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính… Quan điểm này được nhiều cơ quan có thẩm quyền giải quyết chấp nhận trong giải quyết TCĐĐ [25, tr.
Tuy định nghĩa TCĐĐ theo Luật Đất đai năm 2003 gây ra nhiều rối rắm trong cách hiểu và áp dụng pháp luật trên thực tế nhưng khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 lại tiếp tục giữ nguyên cách quy định như trên, chỉ có sự thay đổi về cách sử dụng thuật ngữ: “TCĐĐ là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.” Có thể nói, cách định nghĩa này không mang tính khoa học vì dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về chủ thể, đốiợ ngtư và mục đích giải quyết tranh chấp. 8 Bên cạnh đó, Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 có một số quy định khác liên quan đến nội hàm của khái niệm TCĐĐ như Khoản 14, Điều 22 quy định một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai là “Giải quyết tranh chấp về đất đai; Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai”; Điều 203 quy định Thẩm quyền giải quyết TCĐĐ (có thể thuộc về TAND hoặc Ủy ban nhân dân…). Theo các quy định này, có thể khẳng định, các chủ thể tham gia TCĐĐ chỉ bao gồm những người sử dụng đất và như vậy, chúng tôi cho rằng, TCĐĐ liên quan đến địa giới hành chính không phải là loại TCĐĐ được đề cập tại Khoản 26, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003 cũng như Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 vì những lý do sau đây: Thứ nhất, chủ thể TCĐĐ theo Khoản 24, Điều 3 và Điều 203, Luật Đất đai năm 2013 phải là người sử dụng đất nhưng các chủ thể tranh chấp địa giới hành chính không phải là người sử dụng đất; Thứ hai, đây không phải là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất mà là tranh chấp về phân định địa giới hành chính giữa các địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai; Thứ ba, Luật Đất đai năm 2013 không sử dụng thuật ngữ “TCĐĐ liên quan đến địa giới hành chính” như Luật Đất đai năm 2003 mà sử dụng thuật ngữ “tranh chấp địa giới hành chính”, việc sử dụng thuật ngữ này là hợp lý hơn. Vì vậy, luật mới không quy định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp địa giới hành chính trong Chương 13 về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai mà quy định ở Chương Địa giới hành chính và điều tra cơ bản về đất đai (Chương 3, Khoản 4, Điều 29).
Như vậy, TCĐĐ là tranh chấp về quyền sử dụng đất nhưng không phải là tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. Khoa học pháp lý nói chung không có định nghĩa về quyền sử dụng đất mà chỉ thừa nhận quyền sử dụng đất là quyền của người sử dụng đất được Nhà nước trao quyền thực hiện các quyền 9 sử dụng, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất và thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất đó phù hợp với các hình thức sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Về thực tế, quyền sử dụng đất hợp pháp của bất kỳ một chủ thể nào được Nhà nước ghi nhận thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ thể đó, nó là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất trong việc sử dụng đất. BLDS năm 2005 thừa nhận quyền sử dụng đất là một quyền tài sản, vì vậy nó là một loại tài sản nhưng nó không phải là “tài sản gắn liền với đất.” Điều này có nghĩa, “tranh chấp về quyền sử dụng đất” và “tranh chấp về tài sản gắn liền với đất” là hai khái niệm không giống nhau về nội hàm vì mục đích giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là xác định quyền sử dụng đất thuộc về ai còn mục đích giải quyết tranh chấp tài sản gắn liền với đất là xác định tài sản tranh chấp thuộc về ai.
Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; Tài sản khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời, theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thì: “Tài sản gắn liền với đất” khoản 1 Điều 203 gồm các tài sản sau đây: nhà ở, vật kiến trúc khác gắn liền với đất đó như: Nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho hàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác. Và như vậy, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất có đối tượng tranh chấp là các tài sản nói trên mà không phải là quyền sử dụng đất, chỉ có điều các tài sản này tồn tại gắn liền với đất còn “tranh chấp về quyền sử dụng đất” có thể là tranh chấp không có các tài sản gắn liền với đất. 10 Tóm lại, TCĐĐ là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của những người sử dụng đất trong việc xác định chủ thể nào có quyền sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp.
Đặc điểm của tranh chấp đất đai TCĐĐ thể hiện dấu ấn mạnh mẽ trong các thời kỳ lịch sử khác nhau của quan hệ pháp luật đất đai. Chẳng hạn trước đây, nhà nước chỉ thừa nhận hai hình thức sở hữu trong quan hệ đất đai: sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Bước sang nền kinh tế thị trường, nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất-kinh doanh mà thực hiện quản lý thông qua hệ thống pháp luật, chính sách thuế, đất đai được thừa nhận có giá trị, QSDĐ được tham gia các giao dịch trên thị trường làm quan hệ đất đai ngày càng đa dạng và phức tạp, xuất hiện nhiều quan hệ mới liên quan đến chuyển nhượng, thừa kế, góp vốn… là gia tăng tranh chấp, mâu thuẫn đất đai. Thứ nhất, về chủ thể: chủ thể trong quan hệ TCĐĐ phải là người sử dụng đất (được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất) hoặc người khác có quyền, nghĩa vụ liên quan đến thửa đất.
Trường hợp tranh chấp không phát sinh giữa những chủ thể này với nhau liên quan đến thửa đất thì đó là quan hệ tranh chấp khác. Ví dụ: tranh chấp phát sinh giữa người sử dụng đất với Cơ quan có thẩm quyền trong việc giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất thì đó là tranh chấp về khiếu kiện hành chính. Thứ hai, về khách thể: khách thể trong quan hệ TCĐĐ là quyền quản lý, sử dụng, tài sản gắn liền với đất hoặc cả hai. Đối với quyền sử dụng đất thì đây là loại tài sản đặc biệt vì pháp luật đã quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhà nước sẽ trao lại quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức do pháp luật quy định.