Phần mở đầu 4 Lý do chọn đề tài 4 Nội dung nghiên cứu 8 Mục đích nghiên cứu g Phuong pháp nghiên cứu 9 Phạm vi nghiên cứu ` 9 Những đóng góp khoa học của luận ấn h 11 Chuong [ : Tinh hinh va xu hudng phat triển các công trình phục vu công cộng trong các XNCN 12 1. Tình hình và: nhiệm vụ phát triển các công trình phục vụ công cộng ở Việt Nam 12 1⁄2. Kinh nghiệm và xu hướng phat "triển các công trình phục vụ công cộng trên thế giới ` 21 Chương lÏ: Các công trình phục vụ công cộng trong XNCN và sự hoàn thiện môi trường lao động | 32 2. Ý nghĩa kinh tế - xã hội.
Cơ cấu các công trình phục vụ công cộng 32 2. Chức năng các công trình phục vụ công cộng 33 2. Các yếu tố ảnh hưởng tới thiết kế các công trình phục vụ công cộng 39 2. Yếu tố chức năng công nghệ sản xuất 39 2.
Yếu tố lao động 42 2. Yếu tố kinh tế - kỹ thuật 43 2. Yếu tố tự nhiên - khí hậu 46 2. Yếu tố xã hội 47 Chương lII: Nội dung và phương pháp qui hoạch - thiết kế các công trình phục vụ công cộng trong các XNCN 50 3.
Qui hoạch các công trình phục vụ công cộng 50 3. Nguyên tắc bố trí các công trình phục vụ công cộng 50 3. Phân loại về phương diện qui hoạch các công trình phục vụ công cộng ; 51 3. Phương pháp bố trí các công trình phục vụ công cộng 56 3.
Các phương án bốtríchung 3. Các công trình phục vụ công cộng đặt trong xưởng sản xuất 58 3. Các công trình phục vụ công cộng đặt ngoài xưởng sản xuất 61 3. Các công trính phục vụ công cộng chung cho nhiều xưởng, toàn nhà máy và khu công nghiệp 65 3.
Các trung tâm phục vụ công cộng trong các XNCN và khu công nghiệp * 72 3. Thiết kế các công trình phục vụ công cộng 84 3. Các công trình phục vụ sinh hoạt 78 3. Nguyên tắc thiết kế 78 3.
Tiêu chuẩn thiết kế S0 3. Giải pháp chức năng 88 3. Các công trình phục vụ y tế 91 3. Nguyên tắc thiết kế 91 3.
Tiêu chuẩn thiết kế 93 3. Giải pháp chức năng 94 3. Các công trình phục vụ ăn uống 97 3. Nguyên tắc thiết kế 97 3.
Tiêu chuẩn thiết kế 97 3. Giai pháp chức năng 98 3. Các công trình phục vụ nghỉ ngơi 103 3. Nguyên tắc thiết kế 103 3.
Tiêu chuẩn thiết kế 105 3. Giai pháp chức năng 105 3. Giải pháp kỹ thuật 107 3. Giải pháp thẩm mỹ 117 Chương IV: Những ví dụ nghiên cứu a 124 4.
Nhà may dén hinh Orion - Hanel 124 4. Giới thiệu chung 124 4. Chỉ tiêu tính toán 126 4. Tổ chức phục vụ công cộng trong nhà máy 126 4.
Nhà điều hành sản xuất vo 131 4. Nhà phục vụ sinh hoạt 133 4. Nhà máy xi măng Hoàng Thạch 135 4. Ciới thiệu chung 135 4.
Chi tiêu tính toán 138 4. Nhà khách và dịch vụ 141 Kết luận và kiến nghị 144 Phụ lục PHAN MG DAU Lý do chọn đê tài: Theo tinh thần N.7 từ nay đến năm 2000 cần phải đẩy tới một bước sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo tiền đề cho nền kinh tế quốc gia phát triển mạnh mẽ vào thế ký XXI phù hợp với đặc điểm Việt Nam. Chủ trương trên sẽ tác động sâu rộng trong mọi linh vực đời sống xã hội, mà xây dựng các khu công nghiệp là một trong những điểm tựa, đòn bẩy cho nền kinh tế phát triển. Theo đó các loại hình bố trí công nghiệp từ các xí nghiệp phân tán tới các phức hợp công nghiệp khu công nghiệp đa ngành, chuyên ngành, khu chế xuất, khu công nghiệp kỹ thuật cao.sẽ được hình thành, đan xen nhau một cách đa dạng trên từng vùng lãnh thổ để thúc đẩy sự phát triển.
Việc đẩy nhanh tốc độ xây dựng các xí nghiệp công nghiệp (XNCN) và sớm đưa chúng vào sử dụng và khai thác phải đi đôi với việc chăm lo đến sức khỏe, sinh hoạt và văn hóa của người lao động và xây dựng những điều kiện tối ưu để cho những hoạt động sáng (ao cha ho. Sự phát triển của sản xuất công nghiệp ngày nay đòi hỏi phải thường xuyên thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao của người lao động đồng thời với những đòi hỏi của kỹ thuật. Như mọi người đều biết tính kinh tế của một xí nghiệp không phải chỉ phụ thuộc vào mức độ tác động của máy móc mà là phụ thuộc vào đơn vị năng suất “người và máy” vì vậy cho nên ngày nay tất cả những phí tổn cho con người trong các xí nghiệp cũng cần thiết ngang với những phí tổn cho các biện pháp kỹ thuật do quá trình sản xuất đặt ra. Không phải chỉ xét một mặt là kỹ thuật và ảnh hưởng của nó làm thay đổi con người năm này sang năm khác, mà mặt khác phải thấy là chính những yêu cầu của con người đối với môi trường xung quanh luôn luôn thay đổi.
Nhiều nhu cầu về tiện nghi trước đây người ta xem là tùy tiện thì ngày nay đã trở thành sự cần thiết tất nhiên. Trong các XNCN mỗi người lao động ngoài việc tham gia vào quá trình sản xuất, phải được lôi cuốn vào các hình thức hoạt động đa dạng khác (sáng tạo kỹ thuật và công tác xã hội), mỗi người lao động phải được đảm bảo các điều kiện tối ưu phục vụ sinh hoạt, y tế, nghỉ ngơi, phục vụ ăn uống. Các XNCN ngoài việc sản xuất phải quan tâm phát triển khu phục vụ công cộng. Khái niệm phục vụ công cộng rất rộng: các hình thức không gian nhằm thỏa mãn chức năng công cộng có liên quan mật thiết tới mọi hoạt động của con người (lao động, sinh hoạt, nghĩ ngơi, giải iri.) Các công trình phục vụ công cộng (PVCC) trong các XNCN là một bộ phận trong hệ thống phục vụ chung của thành phố có chức năng chủ yếu là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và nghỉ ngơi của công nhân ngay trong thời gian lao động và một phần thời gian ngoài giờ sản xuất, nhằm phục vụ tốt nhất cho người lao động góp phần bảo vệ sức khỏe, phục hồi sức lao động cho công nhân góp phần tăng năng suất lao động, thúc đẩy sản xuất và nâng cao mức sống văn hóa cho người lao động.
Tổ chức hợp lý hệ thống PVCC trong các XNCN và khu công nghiệp không những có ý nghĩa xã hội mà còn có ý nghĩa kinh tế to lớn. Kinh nghiệm phát triển cho thấy [12] chỉ riêng việc sắp xếp hợp lý nhà ăn công cộng, tổ chức bữa ăn giữa ca, cải thiện điều kiện nghi ngơi sau bữa ăn ca đã góp phần đáng kể tăng năng suất lao động và giảm tỷ lệ tai nạn lao động trong nửa sau ca làm việc và chi phí cho việc xây dựng các công trình PVCC trong một số XNCN hiện đại chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng giá thành xây dựng nhà máy (từ 20 + 25%). Theo nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế [31], hiệu quả kinh tế của những chỉ phí cho việc xây dựng các công trình PVCC khó có thể diễn tả bằng con số nhưng những chi phí đó mau chóng được hoàn lại thông qua kết quả nâng cao năng suất lao động chung của xí nghiệp. Thực tế phát triển cho thấy, một trong những điều kiện lao động quan trọng là việc đáp ứng những nhu cầu phục vụ công cộng cho người lao động.
Mỗi quốc gia đều phải chi phí một khối lượng vật chất lớn cho sức khỏe và đảm bảo điều kiện lao động của công nhân và nhân viên phục vụ. Sự bố trí va tổ chức các tiện nghi phục vụ công cộng trong các xí nghiệp, qui mô và mức độ tiện nghỉ của chúng có ảnh hưởng đến chất lượng môi trường lao động. Ý nghĩa thực tiễn to lớn của vấn đề trong quá trình thiết kế các XNCN là: phát triển những hình thức cơ bản của§ản xuất, tăng số lượng sản phẩm, đưa ra các giải pháp hợp lý việc phục vụ công cộng, văn hóa xã hội nhằm thúc đẩy việc giảm nhân công thừa và tăng năng suất lao động. Hiện nay hình thức phục vu công cộng trở nên rất đa dạng.
Ngoài những phòng và công trình có chức năng phục vụ công cộng (phải đảm báo bán kính phục vụ mọi đối tượng trong xí nghiệp), người ta còn tận dụng éá những không gian trống để tổ chức các khu nghi ngoài giờ sản xuất: sân chơi, viờn cây, sân thể thao. Xu hướng phát triển cho thấy việc hình thành những công trình phục vụ công cộng trong các XNCN phụ thuộc vào 2 yếu tố: [62]. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật làm thay đối công nghệ sản xuất. Sự phát triển của xã hội làm thay đổi nhu cầu sống của con người.
Dưới tác động của 2 yếu tố này diễn ra sự hình thành và phát triển cơ cấu và chức năng phục vụ công cộng. Đặc biệt cần phải nắm được qui luật phát triển chung của nến kinh tế xã hội để dự đoán sự phát triển của nhu cầu vật chất. - văn hóa của người lao động, cũng như hình dung được qui mô và chất lượng của chúng. Mặt khác cần xem xét một cách hợp lý đặc điểm riêng từng ngành sản xuất mà xác định những yêu cầu đối với các cơ sở phục vụ công công.
Trong điều kiện hiện nay cần phải nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và kinh nghiệm của các nước về việc thiết kế và tổ chức hệ thống phục vụ công cộng trong các XNCN, cũng như là kinh nghiệm thực tiên thiết kế và xây dựng các công trình phục vụ công cộng trong các xí nghiệp ở Việt Nam. Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài như: Tổ chức kiến trúc quy hoạch những trung tâm hành chính - công cộng trong XNCN (luận án PTS) của Nguyễn Tri Thành. Tổ chức thiết kế các công trình phục vụ sản xuất (luận án PTS) của Nguyễn Hữu Dũng. Nguyên lý thiết kế nhà phục vụ công cộng trong các XNCN (giáo trình) của Ñgô Thế Thị.
Những chỉ dẫn thiết kế nhà phục vụ sinh hoạt trong các XNCN của viện hàn lâm xây dựng - CHDC Đức. đã góp phần vào việc phân tích cơ sở khoa học việc tổ chức hệ thống các công trình phục vụ công cộng trong các XNCN.