Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ tâm lý học với đề tài "Thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam" được nghiên cứu sinh Phạm Thị Thục Oanh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (chuyên ngành Tâm lý học, mã số: 62310401) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Thị Mai Hương và PGS. Đặng Thanh Nga, bảo vệ năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo báo cáo của Bộ Công an, tính đến hết năm 2018, số lượng phạm nhân nữ đang chấp hành án tại các trại giam chiếm tỉ lệ khoảng 11% tổng số phạm nhân. Việc bị cách ly khỏi đời sống xã hội buộc phạm nhân nữ phải chuyển sang một môi trường giam giữ với cơ sở vật chất hạn chế và các quy định nghiêm ngặt về ăn, mặc, ở, đi lại dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan chức năng. Điều kiện này tạo ra những sức ép và khó khăn tâm lý đặc thù, gia tăng lo lắng về sự bền vững gia đình và trách nhiệm chăm sóc con cái.

Các tài liệu thực tiễn được luận án dẫn chứng cho thấy khi không thích ứng được, phạm nhân nữ xuất hiện nhiều rối nhiễu tâm lý: khoảng 38% phạm nhân nữ gặp vấn đề về trầm cảm, 62,2% có rối loạn lo âu và 49,5% rơi vào tình trạng stress. Một số trường hợp có phản ứng tiêu cực như xung đột tâm lý, tự gây thương tích, trốn trại hoặc vi phạm kỷ luật.

Về mặt lý luận, các công trình nghiên cứu tại Việt Nam trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề tội phạm nữ và thi hành án phạt tù dưới góc độ Khoa học An ninh, Điều tra tội phạm hoặc Luật học. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu về thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ dưới góc độ chuyên ngành Tâm lý học, đặc biệt là Tâm lý học tội phạm và Tâm lý học pháp lý gắn với vấn đề giới và chính sách cải tạo.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và chỉ rõ thực trạng thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn tại các trại giam; trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng thích ứng tâm lý cho phạm nhân nữ.

Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu tổng quan tài liệu trong và ngoài nước; hệ thống hóa các vấn đề lý luận về khái niệm, cấu trúc và các yếu tố dự báo thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam.
  2. Khảo sát và phân tích thực trạng thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ cùng các yếu tố dự báo sự thích ứng này.
  3. Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ khi chấp hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam.

Giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng 3 giả thuyết nghiên cứu chính:

  1. Phạm nhân nữ thích ứng tâm lý ở mức độ thấp với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam ở cả ba thành phần: nhận thức, cảm xúc và hành vi.
  2. Có sự khác nhau về mức độ thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ với việc chấp hành án phạt tù tại trại giam ở các thành phần và các nội dung của sự thích ứng tâm lý.
  3. Các yếu tố gắn với cá nhân và môi trường có khả năng dự báo tới thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện, mức độ thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ với việc chấp hành án phạt tù và các yếu tố dự báo thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ.
  • Khách thể nghiên cứu: 555 phạm nhân nữ đang chấp hành án phạt tù có thời hạn.
  • Địa bàn nghiên cứu: 3 cơ sở giam giữ thuộc Bộ Công an ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ gồm: Trại giam Xuân Nguyên (Hải Phòng), Trại giam Phú Sơn 4 (Thái Nguyên) và Trại giam Thanh Phong (Thanh Hóa). Đây là các trại giam nằm cách xa khu dân cư đông đúc, điều kiện đi lại khó khăn; phạm nhân nữ chiếm khoảng 1/5 tổng số phạm nhân tại các trại này.
  • Phạm vi nội dung và thời gian: Nghiên cứu giới hạn ở sự thích ứng mang tính tích cực của phạm nhân nữ đối với các quy định chấp hành án phạt tù có thời hạn (theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Cấu trúc thích ứng được giới hạn ở 3 thành phần (nhận thức, cảm xúc, hành vi). Các yếu tố dự báo gồm: nhóm yếu tố cá nhân (nhận thức sai lệch về pháp luật, niềm tin, trầm cảm - lo âu - stress, biến nhân khẩu xã hội) và nhóm yếu tố môi trường (gia đình, mối quan hệ với phạm nhân khác, mối quan hệ với cán bộ trại giam).
Tiêu chí Mô tả chi tiết trong luận án
Quy mô mẫu 555 phạm nhân nữ
Phương pháp chọn mẫu Chọn mẫu thuận tiện
Địa bàn khảo sát Trại giam Xuân Nguyên (Hải Phòng), Phú Sơn 4 (Thái Nguyên), Thanh Phong (Thanh Hóa)
Cơ sở pháp lý Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Thời điểm hoàn thành Năm 2019

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu được tác giả phân tích theo hai trục chính: nghiên cứu về thích ứng chung và nghiên cứu về thích ứng tâm lý của phạm nhân.

Các hướng nghiên cứu về thích ứng chung

  1. Thích ứng với môi trường văn hóa:
    • Khởi nguồn từ lý thuyết phản xạ có điều kiện của I.P. Pavlov và quan điểm thích ứng sinh học - xã hội của H. Spencer.
    • Nghiên cứu về hiện tượng sốc văn hóa (culture shock): Kalvero Oberg (1954, 1960) đưa ra mô hình 4 giai đoạn thích ứng (Trăng mật, Sốc văn hóa, Điều chỉnh, Cảm giác như ở nhà); Adler (1975) giải thích cảm giác không tương thích khi mất đi các dấu hiệu xã hội quen thuộc.
    • Mô hình đường cong thích ứng: Lysgaard (1955) với mô hình chữ U; Gullahorn và Gullahorn (1963) phát triển thành mô hình chữ W cho người di cư hồi hương; Triandis H. (1994) đề xuất mô hình chữ U gồm 5 giai đoạn (Trăng mật, Khủng hoảng, Khủng hoảng cao độ, Phục hồi, Thích ứng). Mô hình 4 giai đoạn của VIF International Education (2016) gồm: Trăng mật, Thất vọng, Điều chỉnh, Chấp nhận.
    • Sức khỏe tinh thần và khó khăn văn hóa: Carey A.T. (1956), Singh A.K. (1963), Anumonye A. (1970), Hamboyan H.K. và Bryan (1995) chỉ ra 75% du học sinh lo ngại trầm cảm và xuất hiện hội chứng rối loạn nhổ răng; Natani Creglia (2016) nghiên cứu về trầm cảm và nguy cơ tự tử ở sinh viên quốc tế; Yuefang Zhou và cộng sự (2008); Berry J.W.; Tremblay (1992); Lê Văn Hảo (2012) về trí tuệ xuyên văn hóa.
  2. Thích ứng với các dạng hoạt động đặc trưng (học tập, nghề nghiệp):
    • Nghiên cứu quốc tế: H.K. Hamboyan và cộng sự (1957) khảo sát mối quan hệ giữa kết quả học tập và quan hệ bạn bè khác giới.
    • Nghiên cứu trong nước: Vũ Thị Nho (thích ứng học tập của 420 học sinh tiểu học); Đỗ Mạnh Tôn (1996) với học viên trường sĩ quan quân đội; Phan Quốc Lâm (2000) với 6 biện pháp hỗ trợ học sinh lớp 1; Lê Ngọc Lan (2002) với sinh viên sư phạm; Trần Thị Minh Đức (2003) nghiên cứu sinh viên năm thứ nhất Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Xuân Thức (2005) về rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; Đỗ Thị Thanh Mai (2009) tại Đại học Công nghiệp Hà Nội; Lê Thị Minh Loan (2010) về thích ứng nghề nghiệp sau tốt nghiệp; Đặng Thanh Nga (2010) về đào tạo tín chỉ tại Đại học Luật Hà Nội; Mã Ngọc Thể (2016) với sinh viên dân tộc thiểu số.

Các hướng nghiên cứu về thích ứng tâm lý của phạm nhân

  1. Bản chất và cấu trúc thích ứng:
    • Ph. Xunđurôv xác định thích ứng là sự biến đổi trạng thái cảm xúc của phạm nhân.
    • Wright (1985) phát triển thang đo PAQ (Prison Adjustment Questionnaire), chia thích ứng thành 3 yếu tố: tâm lý bên trong, tâm lý bên ngoài và các yếu tố vật lý.
    • Ushatikov A.B. (2001) xác lập cấu trúc 5 thành phần: nhận thức, cảm xúc, ý chí, động cơ và hành vi; chia quá trình thành 3 pha (thích nghi, cá nhân hóa, hợp nhất).
    • Dhami và cộng sự (2007), Marisa Singer (2012), Leonel da Cunha Gonçalves (2014), Todd R. Clear và cộng sự (2015), Danner Darcleight (2016) tiếp cận cấu trúc thích ứng qua quản lý cảm xúc và tuân thủ kỷ luật.
  2. Các giai đoạn thích ứng của phạm nhân:
    • Đulôv A. (1975) chia 4 giai đoạn: làm quen/thích ứng (3-4 tháng), xuất hiện sự quan tâm đến hoạt động, kết hợp giáo dục với tự giáo dục, trước khi mãn hạn.
    • Xaphrônôv (2003) chia 3 giai đoạn (đầu, giữa, cuối) và phân loại thích ứng tích cực đối lập với thích ứng tiêu cực.
    • Mô hình 5 giai đoạn của Prison Fellowship's Academy (Houston, 2019) dựa trên Elisabeth Kubler-Ross (1969): từ chối, phẫn nộ/giận dữ, thương lượng, trầm cảm, chấp nhận.
  3. Các yếu tố ảnh hưởng và dự báo:
    • MacKenzie và Goodstein (1985), Edward Zamble và Frank J. Porporino (1988), Linquist & Linquist (1997) khảo sát thời hạn thụ án, tiền án và biến nhân khẩu.
    • Yếu tố gia đình và giới: Sobel (1982), Koban (1983), James H. Larson và Joey Nelson (1984), Carr Michelle (2013 dẫn Fogel 1993, Keaveny & Zauszniewski 1999) chỉ ra gánh nặng vai trò làm mẹ, sự chia cắt con cái làm gia tăng trầm cảm và lo âu.
    • Tác giả trong nước: Nguyễn Hồi Loan và Đặng Thanh Nga (2004), Chu Văn Đức (2006 - xác định niềm tin tương lai, gia đình, quan hệ bạn tù), Nguyễn Thị Oanh (2013), Trần Thị Tân Hương (2006), Dương Văn Minh và Đào Thùy Dương (2015).

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án tập trung giải quyết khoảng trống về mặt lý luận và thực nghiệm tâm lý học đối với phạm nhân nữ tại Việt Nam, xây dựng khung đánh giá thực trạng thích ứng qua 3 thành phần (nhận thức, cảm xúc, hành vi) trên 3 nội dung hoạt động trại giam, đồng thời lượng hóa các yếu tố dự báo gắn với cá nhân và môi trường.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các nguyên tắc phương pháp luận

Luận án vận dụng 3 nguyên tắc phương pháp luận căn bản của tâm lý học:

  • Nguyên tắc tiếp cận liên ngành: Kết hợp tâm lý học với giáo dục học, luật học và khoa học quản lý giáo dục phạm nhân để phân tích tác động sư phạm của cán bộ quản lý đối với sự thích ứng của phạm nhân.
  • Nguyên tắc tiếp cận hoạt động - nhân cách: Xem xét tâm lý phạm nhân được hình thành, bộc lộ và biến đổi thông qua các hoạt động thực tiễn tại trại giam; sự mất cân bằng giữa nhận thức, cảm xúc và hành vi biểu hiện sự thích ứng kém.
  • Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Đánh giá sự thích ứng tâm lý như một chỉnh thể thống nhất giữa nhận thức, cảm xúc và hành vi.
Thành phần thích ứng Nội dung biểu hiện trong môi trường trại giam
Nhận thức Sự hiểu biết đúng đắn về pháp luật, nội quy trại giam, ý nghĩa của hoạt động học tập và lao động cải tạo.
Cảm xúc Trạng thái tâm lý tích cực, kiểm soát lo âu, giảm thiểu căng thẳng, chấp nhận hoàn cảnh giam giữ.
Hành vi Sự tuân thủ nội quy, tích cực tham gia các buổi học tập, chấp hành định mức và an toàn lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu: Tổng hợp văn bản pháp luật (Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017, Luật Thi hành án hình sự), các công trình lý thuyết về thích ứng và tâm lý học tội phạm.
  2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Bộ công cụ gồm 79 tiêu chí đo lường mức độ thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ và thang đo trầm cảm - lo âu - stress.
  3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập thông tin trực tiếp từ phạm nhân nữ và cán bộ quản giáo nhằm làm rõ nguyên nhân của các trạng thái tâm lý.
  4. Phương pháp quan sát: Ghi nhận hành vi, thái độ, biểu cảm của phạm nhân nữ trong các hoạt động sinh hoạt, lao động và học tập.
  5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (chân dung tâm lý): Phân tích chi tiết 2 trường hợp đại diện cho mức độ thích ứng cao và mức độ thích ứng thấp.
  6. Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các kỹ thuật tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), phân tích tương quan, phân tích hồi quy nhằm xác định xác suất và mô hình dự báo thích ứng.

Quy trình tổ chức nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu được triển khai qua 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn nghiên cứu lý luận: Xác lập khung khái niệm, cấu trúc thích ứng và mô hình dự báo.
  • Giai đoạn nghiên cứu thực tiễn: Thu thập dữ liệu trên 555 phạm nhân nữ tại 3 trại giam Xuân Nguyên, Phú Sơn 4, Thanh Phong; xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê.
  • Giai đoạn viết và hoàn thành luận án: Phân tích kết quả, viết báo cáo và chỉnh sửa theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu thích ứng tâm lý trong và ngoài nước. Tác giả phân tích các mô hình sốc văn hóa (Oberg, Triandis), các giai đoạn thích ứng của phạm nhân (Đulôv, Ushatikov, Kubler-Ross / Houston Academy) và cấu trúc thích ứng (Wright, Zamble).

Chương này rút ra kết luận: thích ứng của phạm nhân trong môi trường giam giữ mang tính chất bắt buộc, có sự kiểm soát nghiêm ngặt và hạn chế quyền tự do, khiến phạm nhân nữ đối diện với nguy cơ cao về rối loạn cảm xúc (trầm cảm, lo âu, stress). Nghiên cứu khẳng định việc thiếu vắng các công trình tâm lý học chuyên sâu về phạm nhân nữ tại Việt Nam là cơ sở thực tiễn để thực hiện luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận về thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam

Chương 2 xây dựng khung lý thuyết của luận án, chuẩn hóa các khái niệm công cụ: thích ứng tâm lý, phạm nhân nữ, án phạt tù có thời hạn và trại giam. Thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ được định nghĩa là sự điều chỉnh nhận thức, thái độ, cảm xúc và hành vi nhằm đáp ứng các yêu cầu pháp lý và điều kiện sinh hoạt, cải tạo tại trại giam.

Cấu trúc thích ứng được xác lập gồm 3 thành phần gắn với 3 nội dung hoạt động:

  • 3 thành phần: Nhận thức, Cảm xúc, Hành vi.
  • 3 nội dung: Thực hiện nội quy trại giam, Hoạt động học tập, Hoạt động lao động.

Tác giả đề xuất mô hình các yếu tố dự báo gồm: nhóm yếu tố cá nhân (nhận thức pháp luật, niềm tin, trầm cảm - lo âu - stress, nhân khẩu) và nhóm yếu tố môi trường (gia đình, bạn tù, cán bộ quản giáo).

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày đặc điểm địa bàn 3 trại giam (Xuân Nguyên, Phú Sơn 4, Thanh Phong) và cơ cấu mẫu 555 phạm nhân nữ. Tác giả chi tiết hóa bảng hỏi 79 tiêu chí, các mức độ đánh giá thích ứng, quy trình phỏng vấn sâu, quan sát hành vi và phương pháp phân tích chân dung tâm lý.

Chương này cũng mô tả các bước xử lý thống kê toán học: kiểm định độ tin cậy thang đo, tính điểm trung bình từng khía cạnh, chạy tương quan và xây dựng mô hình hồi quy dự báo mức độ thích ứng từ các biến số cá nhân và môi trường.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam

Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả khảo sát thực nghiệm và phân tích thống kê:

  • Mức độ thích ứng chung: Kết quả khảo sát trên 79 tiêu chí cho thấy mức độ thích ứng tâm lý chung của phạm nhân nữ đạt mức trung bình (bác bỏ một phần giả thuyết 1 cho rằng mức độ thích ứng ở mức thấp).
  • So sánh giữa các thành phần: Phạm nhân nữ có mức độ thích ứng về mặt hành vi cao hơn so với thích ứng về nhận thức và thích ứng về cảm xúc. Thích ứng cảm xúc đạt mức thấp nhất trong 3 thành phần.
  • So sánh giữa các nội dung: Mức độ thích ứng cao nhất ở Hoạt động lao động, tiếp theo là Thực hiện nội quy trại giam, và thấp nhất ở Hoạt động học tập.
  • Tương quan và các yếu tố dự báo: Tồn tại tương quan thuận giữa các thành phần thích ứng. Trong các yếu tố dự báo, nhóm yếu tố gắn với cá nhân (đặc biệt là mức độ nhận thức pháp luật, niềm tin vào tương lai và trạng thái trầm cảm - lo âu - stress) có khả năng dự báo mạnh mẽ hơn nhóm yếu tố môi trường.
  • Phân tích trường hợp điển hình: Khắc họa chân dung tâm lý của 2 phạm nhân nữ đại diện cho nhóm thích ứng tốt (nhận thức đúng, cảm xúc ổn định, chấp hành kỷ luật tốt) và nhóm thích ứng kém (lo âu kéo dài, chống đối ngầm, vi phạm quy chế).
Chiều cạnh so sánh Thứ tự mức độ thích ứng từ cao xuống thấp
Theo thành phần tâm lý Hành vi $\rightarrow$ Nhận thức $\rightarrow$ Cảm xúc
Theo nội dung hoạt động Hoạt động lao động $\rightarrow$ Thực hiện nội quy trại giam $\rightarrow$ Hoạt động học tập
Mức độ dự báo của các yếu tố Yếu tố gắn với cá nhân (niềm tin, nhận thức pháp luật, trầm cảm/lo âu) $\rightarrow$ Yếu tố môi trường (gia đình, cán bộ, bạn tù)

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Tổng quan và hệ thống hóa có phê phán các khuynh hướng nghiên cứu trong và ngoài nước về thích ứng văn hóa, thích ứng hoạt động và thích ứng tâm lý của phạm nhân.
  • Làm sáng tỏ các khái niệm khoa học, đặc điểm tâm lý đặc thù của phạm nhân nữ khi chấp hành án phạt tù có thời hạn.
  • Xác lập khung cấu trúc thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ gồm 3 thành phần (nhận thức, cảm xúc, hành vi) đan kết với 3 nội dung hoạt động (nội quy, học tập, lao động) và mô hình hóa các yếu tố dự báo cá nhân - môi trường.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đưa ra bộ dữ liệu thực nghiệm trên 555 phạm nhân nữ, phản ánh thực trạng thích ứng tâm lý đạt mức trung bình; trong đó hành vi thích ứng cao hơn cảm xúc và nhận thức; hoạt động lao động thích ứng tốt hơn học tập và chấp hành nội quy.
  • Chứng minh bằng mô hình thống kê vai trò dự báo trọng yếu của các yếu tố gắn với cá nhân (trạng thái trầm cảm, lo âu, stress, niềm tin tương lai, nhận thức pháp luật) đối với khả năng cải tạo của phạm nhân nữ.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý giam giữ xây dựng chương trình tác động tâm lý, giáo dục cải tạo đặc thù cho phạm nhân nữ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với cán bộ và ban giám thị trại giam: Tăng cường công tác tham vấn, hỗ trợ tâm lý trong giai đoạn đầu mới nhập trại; đổi mới hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động học tập nhằm nâng cao hứng thú và nhận thức pháp luật cho phạm nhân nữ; chú trọng cải thiện môi trường giao tiếp và hỗ trợ giải tỏa cảm xúc tiêu cực.
  • Đối với chính sách và gia đình: Thiết lập cơ chế duy trì liên lạc thường xuyên giữa phạm nhân nữ và gia đình (đặc biệt là mối quan hệ mẹ - con) nhằm củng cố điểm tựa tinh thần, giảm thiểu nguy cơ trầm cảm và stress trong quá trình thi hành án.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi và thiết kế nghiên cứu được trình bày trong văn bản:

  • Hạn chế về khách thể và địa bàn: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với quy mô 555 phạm nhân nữ tập trung tại 3 trại giam thuộc khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ (Xuân Nguyên, Phú Sơn 4, Thanh Phong), chưa bao quát toàn bộ các trại giam trên phạm vi cả nước.
  • Hạn chế về loại hình án phạt: Luận án chỉ giới hạn ở phạm nhân nữ chấp hành hình phạt tù có thời hạn, chưa khảo sát nhóm đối tượng phạm nhân nữ chịu án chung thân hoặc các loại hình chấp hành biện pháp tư pháp khác.
  • Hạn chế về phạm vi nội dung: Nghiên cứu chỉ tập trung vào sự thích ứng mang tính tích cực; chưa triển khai các chương trình can thiệp thực nghiệm sư phạm tâm lý kéo dài để kiểm chứng mức độ chuyển biến theo thời gian.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát tại các trại giam khu vực phía Nam; nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp can thiệp tâm lý lâm sàng đối với các rối loạn trầm cảm, lo âu ở phạm nhân nữ; theo dõi dọc quá trình thích ứng sau khi tái hòa nhập cộng đồng.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Cán bộ quản lý, giáo dục trại giam: Nắm bắt quy luật diễn biến tâm lý, mức độ thích ứng và các điểm nghẽn cảm xúc của phạm nhân nữ để xây dựng phương pháp quản lý, phân loại cải tạo và tổ chức lao động phù hợp.
  • Nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh: Sử dụng tài liệu phục vụ giảng dạy và nghiên cứu trong các chuyên ngành Tâm lý học tội phạm, Tâm lý học pháp lý, Tâm lý học xã hội, Khoa học Cảnh sát thi hành án hình sự và Tội phạm học.
  • Nhà hoạch định chính sách: Tham khảo cơ sở thực tiễn để hoàn thiện chế độ, chính sách giam giữ bảo đảm yếu tố giới và quyền con người đối với nữ phạm nhân.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng hỏi 79 tiêu chí đo lường thích ứng tâm lý, mô hình các yếu tố dự báo cá nhân - môi trường và phân tích thực nghiệm các biểu hiện không thích ứng ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát thực nghiệm trên đối tượng nào và tại các địa bàn nào?

Luận án khảo sát trên mẫu gồm 555 phạm nhân nữ đang chấp hành án phạt tù có thời hạn tại 3 cơ sở giam giữ thuộc Bộ Công an: Trại giam Xuân Nguyên (Hải Phòng), Trại giam Phú Sơn 4 (Thái Nguyên) và Trại giam Thanh Phong (Thanh Hóa).

2. Cấu trúc thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ trong luận án được xác định gồm những thành phần nào?

Cấu trúc thích ứng tâm lý được xác định gồm 3 thành phần: nhận thức, cảm xúc và hành vi. Ba thành phần này được xem xét trên 3 nội dung hoạt động cụ thể tại trại giam gồm: thực hiện nội quy trại giam, hoạt động học tập và hoạt động lao động.

3. Thực trạng mức độ thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ được phát hiện như thế nào?

Thực trạng thích ứng tâm lý chung của phạm nhân nữ đạt mức trung bình. Về thành phần, thích ứng hành vi đạt mức cao nhất, tiếp theo là nhận thức và thấp nhất là cảm xúc. Về nội dung hoạt động, thích ứng với hoạt động lao động đạt mức tốt nhất, tiếp đến là thực hiện nội quy trại giam và thấp nhất là hoạt động học tập.

4. Những yếu tố nào đóng vai trò dự báo mạnh nhất đến sự thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ?

Nhóm yếu tố gắn với cá nhân có khả năng dự báo mạnh hơn so với nhóm yếu tố môi trường. Trong đó, nhận thức đúng đắn về pháp luật, niềm tin vào tương lai và mức độ kiểm soát các trạng thái trầm cảm - lo âu - stress là những yếu tố dự báo cốt lõi.

5. Tỉ lệ các biểu hiện rối nhiễu tâm lý ở phạm nhân nữ được tác giả trích dẫn trong phần đặt vấn đề là bao nhiêu?

Theo các tài liệu được tác giả tổng hợp ở phần lý do chọn đề tài, có khoảng 38% phạm nhân nữ gặp vấn đề về trầm cảm, 62,2% có rối loạn lo âu và 49,5% rơi vào tình trạng stress trong quá trình chấp hành án tại trại giam.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Thục Oanh đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về sự thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ đối với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn tại trại giam. Kết quả nghiên cứu trên 555 phạm nhân nữ tại 3 trại giam chỉ ra mức độ thích ứng chung ở mức trung bình, với sự vượt trội của mặt hành vi và hoạt động lao động so với mặt cảm xúc và học tập. Công trình chứng minh vai trò dự báo quyết định của các yếu tố cá nhân (nhận thức pháp luật, niềm tin, sức khỏe tâm thần) đối với khả năng thích ứng, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục, cải tạo phạm nhân nữ trong bối cảnh thi hành án hình sự hiện nay.