đặt vấn đề nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn về hình dạng thân cây thân cây rừng Việt Nam từ nguồn tài liệu thực nghiệm phong phú, bằng phương pháp nghiên cứu khoa học và hiện đại các tác giả đã rút ra những kết quả có tính định hướng cho khoa học điều tra rừng Việt Nam đó là: - Dãy số thon của Hohenadl thể hiện trung thực và toàn diện hình dạng thân cây gỗ rừng Việt Nam và đồng thời là tài liệu cơ sở tốt nhất để lập phương trình đường sinh thân cây. - Hình số tự nhiên (f01) là chỉ tiêu cô động biểu thị trung thực hình dạng thân cây, đại lượng này chính bằng tích phân của phương trình đường sinh thân cây đã nói trên. - Hình dạng trung bình của một một loài cây thể hiện ở sự ổn định của dãy số thon, bậc và vị trí điểm uốn phương trình đường sinh cũng như trị số tự nhiên bình quân của loài đó. - Hình dạng thân cây rừng Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào loài, phụ thuộc không đáng kể vào yếu tố địa phương.
Từ những kết luận trên, công tác điều tra nói chung và lập biểu thể tích nói riêng cần thực hiện theo nhóm loài cây có hình dạng thuần nhất và không cần thiết phải mang tính địa phương. Đó chính là cơ sở để Nguyễn Ngọc Lung (1971)[10] xây dựng biểu thể tích toàn quốc theo 5 tổ hình dạng cho các loài cây rừng tự nhiên đang được sử dụng rộng rãi hiện nay. Tác giả Vũ Nhâm (1988), đã ứng dụng phương pháp hệ đường sinh để lập biểu thể tích cây đứng và biểu thương phẩm cho loài thông đuôi ngựa vùng Đông Bắc. Về phương pháp lập biểu có thể tóm tắt như sau: 11 Sản phẩm được phân chia trên biểu độ thon tương ứng với cỡ d và h.
Trong đó, hệ số thon Koi (Koi = ) được suy diễn từ phương trình biểu thị quan hệ giữa Koi với chiều cao tương đối thân cây. Thể tích mỗi loại sản phẩm trên cây bình quân được tính bằng tích phân từ phương trình đường sinh thân cây. Tác giả Bảo Huy, Tăng Công Tráng (1997) cũng đã sử dụng phương pháp trên để lập biểu thể tích và biểu thương phẩm cho loài Xoan Mộc, loài Bằng lăng và nhóm loài cây ưu thế ở rừng tự nhiên Tây Nguyên. Theo Lê Thị Yến [19], Trần Văn Cẩn (1999) đã lập biểu thể tích Mỡ trồng tại vùng nguyên liệu giấy đã vận dụng phương pháp đường sinh thân cây.
Kết quả đề tài thu được đối với phương trình đường sinh thân cây có vỏ loài Mỡ dạng 1.39) Trần Hữu Viên (2002) đã áp dụng phương pháp của Pêtrôpski.X (CHLB Nga) để xây lập biểu thể tích và biểu độ thon thân cây ở Việt nam với thể tích thân cây được xác định bằng phương pháp đường sinh dạng 1.40) Trong đó: 2X là đường kính thân cây tại vị trí độ cao l tính từ gốc d05 là đường kính giữa thân cây F là hằng số được coi là hình số không đổi phụ thuộc vào loài cây Là hàm của biến số ( ) H là chiều cao của thân cây 12 Thể tích của từng đoạn thân cây tại vị trí bất kỳ được xác định bằng công thức 1.41) Trong đó b = 1,2,3… là chiều cao tại vị trí 1, 2, 3m… Xuất phát từ công thức của Pêtrôpski: 2X = d05 ta thu được 2X = Từ công thức tính thể tích thân cây, công thức tính thể tích từng đoạn thân cây và công thức tính đường kính thân cây tại vị trí độ cao l tính từ gốc nói trên, cho phép xây dựng biểu thể tích và biểu độ thon thân cây có thể theo mẫu biểu 2 nhân tố hoặc theo cấp chiều cao. Lê Thị Yến (2009)[19], đã sử dụng phương trình đường sinh có sẵn để lập biểu thể tích gỗ dưới cành và gỗ to thân cây cho 15 loài cây rừng tự nhiên: Trường mật, Vên vên, Vải, Lim xanh, Máu chó, Táu muối, Kiền kiền, Giổi, Bời lời, táu mật, Sến mật, Hoàng mang, Dẻ, Dung, Re. Xây dựng biểu biểu tích bằng phương pháp tương quan Nghiên cứu về dạng phương trình thể tích trong điều kiện của rừng miền Bắc nước ta, Đồng Sỹ Hiền (1971)[4] đã thử nghiệm hai dạng parabol 1.42 và 3 dạng lũy thừa 1.43 dưới đây cho một số loài cây rừng tự nhiên ở nước ta: V = a + b.42) logV = a + b1logd+ b2logh+b3logq2 (1.43) Trên cơ sở đánh giá những biểu thể tích đã lập ở Việt Nam và những nghiên cứu trong lĩnh vực lập biểu thể tích các tác giả đã đi đến kết luận là trong điều kiện tự nhiên Việt Nam không thể lập biểu thể tích 1 nhân tố, cũng 13 như biểu thể tích cấp cao mà phải lập biểu thể tích 2 nhân tố cho từng loài hay từng nhóm loài cây có hình dạng thuần nhất. Biểu thể tích cấp chiều cao bạch đàn Trung Quốc được Thuật Hùng (1989) đã lập thành biểu thể tích cấp chiều cao cho loài Bạch đàn liễu và Bạch đàn chanh ở Lôi Châu, Trung Quốc trên cơ sở quan hệ H/D theo phương trình 1.44 h = d(a + bd) và quan hệ V theo dạng hàm 1.24 Biểu thể tích rừng Thông đuôi ngựa ở vùng Đông Bắc: Biểu này do Phạm Ngọc Giao lập năm 1988 trên cơ sở quan hệ V = f(d.45) Vũ Tiến Hinh (1996) đã lập biểu thể tích chung cho loài cây Keo lá tràm ở Đồng Nai, Quảng Nam – Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Hòa Bình, Vĩnh Phúc.
Qua thử nghiệm một số dạng phương trình mô tả mối quan hệ giữa V với d và h, tác giả đã chọn phương trình dạng 1.46 dưới đây làm cơ sở lập biểu thể tích V = - 0,03196 + 0,00511.46) Khúc Đình Thành (1999) [12], lập biểu thể tích Keo tai tượng tại khu vực Uông Bí và Đông Chiều Quảng Ninh trên cơ sở công thức cơ bản dạng hàm 1.33 Theo Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1999) [11] Khi lập biểu thể tích rừng Thông ba lá đã sử dụng phương trình dạng 1.47) Năm 2001, Đào Công Khanh [8] lập biểu thể tích cho loài Keo tai tượng, đã thử nghiệm các dạng hàm 1.26 để lập biểu thể tích cho một số loài cây trong đề tài. Trong đó dạng phương trình 1.18 là phù hợp nhất và nhân tố hình dạng đã được phản ánh qua đường kính và chiều cao trong công thức. 14 Năm 2002, Nguyễn Thị Hải Yến [20] lập biểu thể tích cây đứng cho loài Cao su ở khu vực miền Đông Nam Bộ đã thử nghiệm các dạng hàm 1.48) Kết quả cho thấy phương trình dạng 1.18 là phù hợp nhất để lập biểu. Khi lập biểu sinh trưởng và sản lượng tạm thời cho rừng Keo lai trồng thuần loài, Nguyễn Trọng Bình (2003) [1], đã sử dụng phương pháp đường sinh để lập biểu thể tích hai nhân tố.
Qua kết quả tính toán và thử nghiệm bậc phương trình đường sinh thân cây, tác giả đã chọn được phương trình bậc 5 là phù hợp nhất cho cả thân cây có vỏ và không vỏ. Theo Nguyễn Trọng Bình (2003) [1] và Vũ Tiến Hinh (1999 – 2000) kết quả xây dựng biểu thể tích được kiểm nghiệm thông qua số liệu của 15 – 20 cây không tham gia thiết lập phương trình. Kết quả cho thấy sai số xác định thể tích cây cá lẻ cũng như trữ lượng lâm phần của biểu, đồng thời đánh giá biểu có sai số hệ thống hay không. Nhận xét về nghiên cứu biểu thể tích thân cây trên thế giới và Việt Nam: Kết quả nghiên cứu về lập biểu thể tích cho thấy 2 phương pháp đường sinh và tương quan đã được nhiều tác giả sử dụng để lập biểu cho nhiều loài cây thuộc cả hai đối tượng rừng trồng và rừng tự nhiên.
Các kết quả thu được về lập biểu đã được ứng dụng nhiều trong thực tiễn sản xuất kinh doanh để xác định trữ lượng lâm phần. Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu đã góp phần hoàn thiện bảng biểu và xác định được phương pháp hợp lý cho lập thể tích thân cây cho từng đối tượng rừng. Với loài cây Cao su, khi gỗ đang được các nhà kinh doanh quan tâm để ứng dụng trong thực tiễn sản xuất thì việc xác định nhanh được trữ lượng gỗ của một lâm phần là một việc cấp thiết. Tuy nhiên, các nghiên cứu về lập biểu để xác định nhanh trữ lượng chưa được nhiều tác giả quan tâm.
Với những lý do trên, Luận văn nghiên cứu các 15 phương pháp lập biểu thể tích và lựa chọn được phương pháp hợp lý nhất cho lập biểu sẽ góp phần quan trọng và thực tiễn trong sản xuất, kinh doanh rừng Cao su. Tình hình nghiên cứu về cây Cao su 1. Trên thế giới Cây Cao su có nguồn gốc từ Nam Mỹ, sau này được đưa đi trồng ở các nước Châu Á, Châu Phi. Cây cao su có khả năng thích ứng rộng, tính chống chịu cao, là cây công nghiệp có giá trị kinh tế lớn.
Vì vậy những công trình nghiên cứu về cây Cao su và gỗ Cao su đã được nhiều tác giả đề cập. Năm 1873, những cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng Cây cao su ra ngoài phạm vi Brazin đã được tiến hành. Sau một thời gian, 12 hạt giống đã nảy mầm tại Vườn thực vật Hoàng gia Kew. Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để gieo trồng nhưng chúng đều đã chết.
Đến năm 1975, sau những nghiên cứu tiếp theo đã có khoảng 70.000 hạt giống được gửi tới Kew trong đó có khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm. Năm 1876, những cây giống đã được gửi tới Ceylon và các Vườn thực vật tại Singapo. Sau đó, cây Cao su đã được nhân rộng khắp tại các thuộc địa của Anh. Các cây Cao su đã có mặt tại các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia vào năm 1983.
Năm 1898, một đồn điền Cao su đã được thành lập tại Malaysia. Đến nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi nhiệt đới. Bên cạnh những mục tiêu tạo tuyển giống cây Cao su có năng suất mủ cao, khả năng chống chịu bệnh tốt và thích nghi với môi trường, năng suất gỗ cũng trở thành tiêu chí quan trọng trong chọn tạo giống Cao su vì nhu cầu gỗ Cao su ngày càng cao. Để đáp ứng được mục tiêu đó, Malaysia đã đặt mục tiêu tạo tuyển giống Cao su đạt năng suất bình quân 3.5 tấn mủ/ha/năm và năng suất gỗ toàn cây đạt 1.5m3/cây vào cuối chu kỳ kinh doanh.
16 Hiện nay, Indonesia là nước trồng Cao su lớn nhất thế giới.