Chương 1: Khái quát về thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách Nhà nước. - Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách Nhà nước tại thị xã Quảng Yên. - Chương 3: Kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách Nhà nước tại thị xã Quảng Yên. Luan van 10 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THANH TRA VIỆC CHẤP HÀNH CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT TRONG ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.1 Khái quát chung về thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật trong đầu tƣ xây dựng cơ bản 1.1 Khái niệm và đặc điểm thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật 1.1 Khái niệm thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật Theo Từ điển Tiếng Việt: “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” (Hoàng Phê, 2012, tr.
Với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định. Thanh tra là hoạt động của một chủ thể có thẩm quyền: Người làm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra và đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định. Thanh tra theo thuật ngữ Tiếng Anh - inspect - xuất phát từ gốc Latinh (In- Spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ một sự xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định. Theo Từ điển Anh - Anh - Việt, động từ “inspect” có nghĩa là “thanh tra” và được giải thích là hoạt động xem xét kỹ, kiểm tra một cách cẩn thận, chính xác đối với đối tượng bị thanh tra nhằm mục đích xác minh hoạt động đó được thực hiện công khai, chuyên nghiệp.
Còn ở dạng danh từ “inspectorate” lại được giải thích như một cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ thanh tra. Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích “thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc”. Theo từng giai đoạn lịch sử, khái niệm về thanh tra cũng được nhận thức khác nhau. Đó là sự phản ánh về mô hình tổ chức các cơ quan nhà nước, về sự kiểm soát đối với hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước: Thời kỳ phong kiến, ở các triều đại Lý, Trần, Lê có cơ quan “Ngự sử đài”, người đứng đầu là “Quan ngự sử” là một cơ quan điển hình, chuyên làm công việc giám sát ở triều đình, can gián nhà vua, tố giác tội lỗi của các quan lại nhằm giữ gìn Luan van 11 kỷ cương phép nước; chức năng gần giống như cơ quan thanh tra Nhà nước hiện nay.
Ngự sử đài có nhiệm vụ giúp vua trong việc theo dõi, xem xét các công việc hệ trọng của triều đình. Quan ngự sử đời nhà Trần có quyền tiền trảm hậu tấu và là chức quan duy nhất có quyền can gián vua. Thời nhà Lê có hàm “Gián nghị đại phu” phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám nói thẳng, nói đúng sự thật, Gián nghị đại phu có quyền đề xuất ý kiến về những việc nhà vua nên làm và can gián nhà vua những việc không nên làm. Năm 1945, ngay sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập, ngày 23 tháng 11 năm 1945, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt.
Sắc lệnh nêu rõ: “Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”, từ đây thuật ngữ “Thanh tra” xuất hiện, để chỉ một cơ quan cụ thể, quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ. Năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta được ban hành. Trong đó quy định quyền “kiểm soát” đối với Chính phủ được giao cho Ban Thường vụ của Nghị viện: “Khi Nghị viện không họp, Ban Thường vụ có quyền kiểm soát, phê bình Chính phủ”, thực chất đây là quyền giám sát của cơ quan dân cử (cũng như quyền giám sát của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với Chính phủ). Hiến pháp năm 1959 đã đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành các quyết định quản lý Nhà nước: “Hội đồng Chính phủ ra những Thông tư, Chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các Thông tư và Chỉ thị ấy” và “Ủy ban hành chính các cấp quản lý công tác hành chính.
ra Quyết định, Chỉ thị và kiểm tra việc thi hành Quyết định, Chỉ thị ấy”. Như vậy, thanh tra, kiểm tra ở đây ngoài việc xem xét vi phạm của các cơ quan, nhân viên hành chính hay Chính phủ còn mở rộng ra giám sát, kiểm tra các hoạt động xây dựng, ban hành, thực hiện các văn bản pháp quy. Hiến pháp năm 1980 sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý Nhà nước. Khoản 15 Điều 107 của Hiến pháp năm 1980 quy định Hội đồng Bộ trưởng có nhiệm vụ: “Tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra và kiểm tra của Nhà nước”, Điều 110 quy định: “Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lãnh Luan van 12 đạo công tác của Hội đồng Bộ trưởng, đôn đốc, kiểm tra việc thi hành những quyết định của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng”.
Về Ủy ban nhân dân, Điều 124 quy định: “Ủy ban nhân dân các cấp chiểu theo quyền hạn do luật định, ra những Quyết định, Chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó”. Hiến pháp năm 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn qua các Điều 112, 115, 116 và 124. Khoản 7 Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng, trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân”. Điều 115 quy định “.Chính phủ ra Nghị quyết, Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định, Chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó.
Đối với Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ “ra Quyết định, Chỉ thị, Thông tư và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó. Đối với Ủy ban nhân dân, Điều 124 Hiến pháp 1992 cũng quy định “Ủy ban nhân dân. ra Quyết định, Chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó”. Đến Hiến pháp sửa đổi năm 2013, một lần nữa khái niệm thanh tra được làm rõ trong bộ máy Nhà nước tại Điều 96, khoản 5 có nêu: “…tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước…”.
Như vậy, Chính phủ thực hiện quyền kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc tổ chức công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước, bao gồm cả các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, hoạt động thanh tra của các tổ chức thanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước. Điều 8 Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 quy định nhiệm vụ của các tổ chức thanh tra Nhà nước là: “thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch Nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, trừ hoạt động điều tra truy tố, xét xử của các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế của các cơ quan trọng tài kinh tế”. Luan van 13 Theo Luật Thanh tra năm 2004 và Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010 đã khẳng định và là làm rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, quyền hạn của các cơ quan thanh tra và có giải thích về thanh tra nhà nước, thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.” (Điều 3, Luật Thanh tra 2010) Theo Giáo trình Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra chương trình thanh tra viên năm 2017 của Trường Cán bộ thanh tra: “Thanh tra là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động thanh tra nhà nước. Thanh tra được hiểu là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét đánh giá của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
Theo tác giả luận văn, đây là một khái niệm tương đối đầy đủ thể hiện bản chất của hoạt động thanh tra. Từ những ngữ nghĩa như vậy, thanh tra với vai trò là danh từ chung có thể được hiểu là một thực thể pháp lý, một thiết chế Nhà nước để chỉ cơ quan, tổ chức hoặc bộ phận nhất định thực hiện chức năng thanh tra.