ĐẶT VẤN ĐỀ Keo tai tƣợng (Acacia mangium Willd) là loài cây hiện nay đƣợc trồng rộng rãi và phổ biến trong các tỉnh, thành phố ở nƣớc ta. Chúng đƣợc xem là loài cây có nhiều triển vọng tốt do khả năng thích nghi với hầu hết các điều kiện khí hậu và đất đai. Keo tai tƣợng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau: Gỗ đƣợc dùng làm nguyên liệu sản xuất giấy, làm gỗ trụ mỏ, làm củi, lá dùng làm phân xanh,… Keo có hệ rễ phát triển mạnh, có nấm cộng sinh cố định đạm nên có tác dụng cải tạo đất rất tốt. Nhƣng song song với việc hình thành nên các lâm phần keo thuần loài thì quần thể sâu hại cũng xuất hiện và phát triển mạnh.
Mấy năm gần đây qua điều tra cho thấy trong các lâm phần keo trồng thuần loài thƣờng xuất hiện một số loài sâu hại nhƣ Sâu nâu ăn lá keo (Anomis fulvida Guenee), Sâu vạch xám ăn lá keo (Speiredonira retorta Linnaeus), Sâu róm đen, Sâu cuốn lá,… Đặc biệt mấy năm gần đây xuất hiện một số loài sâu ăn lá Keo tai tƣợng thuộc Họ ngài đêm (Noctuidae), Bộ cánh vẩy (Lepidoptera), trong đó đã có hai loài phát dịch ở nhiều nơi nhƣ Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây,… gây tổn thất lớn cho rừng trồng. Theo nghiên cứu mới đây nhất, 2 loài sâu này là Sâu ăn lá keo (Anomis fulvida Guenee) và Sâu vạch xám ăn lá keo (Speiredonira retorta Linnaeus). Hai loài này sống chung với nhau và đã gây ra dịch kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1998 ở các lâm trƣờng thuộc hai tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, chúng đã phá hoại 5220 ha rừng Keo tai tƣợng. Trong năm 1998, để phòng trừ dịch hại, đã có 3 biện pháp cơ bản đƣợc thực hiện, trong đó biện pháp thủ công thông qua thu mua sâu non và biện pháp hóa học đƣợc sử dụng ở nhiều địa phƣơng, còn biện pháp sử dụng mồi nhử bả độc chỉ đƣợc áp dụng có tính chất thử nghiệm.
Biện pháp bắt giết và biện pháp hóa học đã thực hiện là hai giải pháp tình huống, áp dụng khi sâu đã phát dịch nên thƣờng mang tính thụ động và rất tốn kém, nhất là với địa bàn lâm nghiệp khá rộng và địa hình phức tạp thì việc áp dụng hai biện pháp này trờ nên gặp nhiều khó khăn, sử dụng thuốc hóa học còn làm ảnh hƣởng nghiêm trọng tới môi trƣờng có thể gây ra hậu quả khó 1 lƣờng. Để có cơ sở cho việc đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại một cách hợp lý và khoa học, cần phải nghiên cứu kỹ các đặc điểm sinh học các loài sâu hại Keo tai tƣợng cho từng khu vực cụ thể. Nằm trong khu vực tỉnh Ninh Bình, xã Cúc Phƣơng có diện tích rừng trồng keo tai tƣợng đã và đang là đối tƣợng bị phá hại của các loài sâu bệnh hại. Để góp phần nhỏ bé của mình vào công tác quản lý bảo vệ rừng của địa phƣơng, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần sâu hại trên cây Keo tai tƣợng (Acacia mangium Willd) và đề xuất một số biện pháp phòng trừ tại Xã Cúc Phƣơng, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Côn trùng là lớp động vật phong phú, chiếm tới ½ tổng số loài sinh vật trên trái đất. Trong đó chỉ có khoảng 1% là sâu hại. Sự phong phú về thành phần loài, số lƣợng cá thể trong loài đa dạng về sinh cảnh sống đã góp phần tạo ra tính đa dạng sinh vật trên trái đất. Điều đã thôi thúc các nhà khoa học trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng tiến hành nghiên cứu côn trùng.
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về côn trùng đã đƣợc xuất bản, công bố.Khái quát tình hình nghiên cứu về côn trùng thế giới Ngay khi loài ngƣời xuất hiện, đặc biệt là từ lúc con ngƣời bất đầu biết trồng trọt và chăn nuôi, họ đã va chạm với sự phá hoại nhiều mặt của côn trùng. Do đó con ngƣời phải bắt tay vào tìm hiểu nghiên cứu về côn trùng. Những tài liệu nghiên cứu về côn trùng rất nhiều và phong phú. Trong một cuốn sách cổ của Xeerri viết vào năm 3000 TCN đã nói tời cuộc bay khổng lồ và sự phá hoại khùng khiếp của những đàn châu chấu sa mạc.
Trong các tác phẩm nghiên cứu của ông nhà triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa đƣợc hơn 60 loài côn trùng. Ông đã gọi tất cả các loài côn trùng ấy là những loài chân có đốt. Hội côn trùng đầu tiên trên thế giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh năn 1945. Hội côn trùng ở Nga đƣợc thành lập năm 1959.
Nhà côn trùng Nga Keppen (1882 – 1883) đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập về côn trùng lâm nghiệp trong đó đề cập đên côn trùng thuộc bộ cánh cứng. Những cuộc du hành của nhà nghiên cƣu côn trùng Nga nhƣ Potanrin (1976 – 1899), Provorovski (1979 – 1895), Kozlov (1883 – 1921) đã xuất bản tài liệu về côn trùng ở trung tâm châu Á, Mông Cổ và miền tây Trung Quốc. Đến thế kỷ XIX đã xuất bản nhiều tài liệu về côn trùng ở Châu Âu, Châu Mỹ (gồm 40 tập) ở Madagatsca (gồm 6 tập) quần đảo Haoai, Ấn Độ và nhiều nƣớc khác trên thế giới. Trong các tài liệu nói trên đề cập đến loài côn trùng thuộc bộ cánh cứng nhƣ: mọt, xen tóc và các loài côn trùng cánh cứng ăn hại khác.
3 Ở Nga đã có nhiều nhà nghiên cứu côn trùng nổi tiếng, họ đã xuất bản những tác phẩm có giá trị về nhƣng loài nhƣ sâu róm thông, sâu đo ăn lá, ong ăn lá, các loài thuộc họ cánh cứng ăn lá thuộc họ Chrysomelidae, Mọt, Vòi Voi, Xén Tóc đục thân… Về phân loại năm 1910 – 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc Bộ Cánh Cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài in trong 31 tập. Trong đó đã đề cập đến hàng nghìn loài thuộc bọ lá Chrysomelidae.Ilisnki đã xuất bản cuốn “Phân loài côn trùng bằng trừng, sâu non, nhộng, của các loài hại rừng”. Năm 1950, Viện Hàn Lâm Khoa Học Liên Xô đã xuất bản tập “Phân loại côn trùng ở các dải rừng phòng hộ” của tác giả L.Ap non di và G. Năm 1959, Trƣơng Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng học” liên tiếp từ năm 1956 giáo trình “Sâm lâm côn trùng học” đƣợc viết lại nhiều lần.
Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loài bọ lá phá hoại nhiều loại cây rừng trong đó có các loài: Ambrostma quadriimpressum Motsh ; Gazercella aenescens Fairemaire ; Gazercella maculli colis Motsh ; Chrysomela populi Linnaeus ; Chrysomela zutea Oliver ; Chrysomera adamsi ornaticollis Chen ; Plagiodera vesicolora Laichart ; Gaszrolina thoracica Boly ; Chitea mellica Chen. Năm 1958, các nhà côn trùng Trung Quốc đã nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của các loài sâu hại rừng. Năm 1959 đã cho ra đời cuốn “Sâu lâm côn trùng và biện pháp phòng trừ các loài sâu hại rừng”. Năm 1965, Viện hàn Lâm Khoa Học Liên Xô cho ra đời cuốn “Phân loại côn trùng thuộc bộ cánh cứng phần Châu Âu thuộc Liên Xô”.
Ở Trung Quốc giáo trình “Sâm lâm côn trùng học” của Trƣơng Chấp Trung xuất bản năm 1961, năm 1978 xuất bản cuốn “Hình vẽ côn trùng thiên địch”, năm 1970 Donald.Boro và Riciard.White đã xuất bản “Sổ tay về lĩnh vực côn trùng” ở Bắc Mỹ, trong đó đề cập đến phân loại sâu hại, sâu có ích. Năm 1978, Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xuất bản cuốn “côn trùng Vân Nam” đã xây dựng một mảng tra của ba họ phụ của Họ Bọ lá 4 (Chrysomelidae) cụ thể họ phụ Chrysomelinea đã giới thiệu 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài và họ phụ Galirucinae đã giới thiệu 93 loài. Khái quát tình hình nghiên cứ về côn trùng ở Việt Nam Trƣớc đây việc nghiên cứu về côn trùng chƣa có nhiều nhƣng đến những năm gần đây thì việc nghiên cứu về côn trùng đã đƣợc quan tâm chú trọng nhiều hơn. Cụ thể nhƣ: - Năm 1976, xuất bản giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp” của Phạm Ngọc Anh.
- Năm 1933, xuất bản giáo trình “Kỹ thuật phòng trừ các loài sâu hại rừng”. - Năm 1997, xuất bản giáo trình “Côn trùng rừng”. - Năm 1998, Trân Công Loanh đã giới thiệu trong thông tin khoa học của trƣờng Đại Học Lâm Nghiệp số 2/1998. Kết quả nghiên cứu về loài sâu gập mép này thuộc giống Coleophara, họ ngài bao (Coleophoridae), bộ cánh vẩy (Lepidoptera).
Năm 1998, Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số 1 Quảng Ninh đã giới thiệu kết quả nghiên cứu sơ bộ về một số đặc điểm hình thái về tập tính hoạt động của 3 loài sâu hại sau: Loài “sâu đo” hại Keo tai tƣợng, Bọ ăn lá Keo tai tƣợng (Ambrostoma quadrimpressum Most), Ngài túi nhỏ ăn lá Keo tai tƣợng (Acanthopsyche Sp). Năm 2001, trong cuốn “Điều tra dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp” các tác giả Trân Công Loanh, Nguyên Thế Nhã, Trần Văn Mão đã đƣa ra các phƣơng pháp đánh giá và dự báo khả năng phát dịch của sâu, bệnh hại rừng dựa vào đặc điểm sinh học của mỗi loài. Phòng trừ sâu bệnh hại là một bộ phận quan trọng của công tác bảo vệ thực vật nhằm: Ngăn chặn thiệt hại do sâu bệnh gây ra. Cải tạo trạng thái, góp phần củng cố thế bền vững của hệ sinh thái, góp phần tăng năng suất chất lƣợng sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh, phát triển bền vững.
Có rất nhiều biện pháp phòng trừ sâu hại nhƣ: phƣơng pháp kiểm dịch thực vật, phƣơng pháp canh tác, phƣơng pháp giới thiệu vật lý, phƣơng pháp sinh 5 Chƣơng 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Góp phần hạn chế sâu hại, nâng cao năng suất cây trồng, bảo vệ môi trƣờng sinh thái.
Mục tiêu cụ thể - Xác định thành phần các loại sâu hại Keo tai tƣợng tại khu vực nghiên cứu. - Xác định đƣợc đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu hại chủ yếu đối với Keo tai tƣợng. - Đề xuất đƣợc các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại chủ yếu. Nội dung nghiên cứu - Xác định thành phần các loài sâu hại trên cây Keo tai tƣợng tại khu vực nghiên cứu.
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của một số loài sâu hại chủ yếu. - Đề xuất một số biện pháp phòng chống của loài sâu hại chủ yếu tại khu vực nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu 2. Kế thừa tài liệu - Các tài liệu tự nhiên kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu.
Phƣơng pháp điều tra thành phần sâu hại 2.