ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam với 3/4 iện tích là iển nằm trải ài từ Móng Cái đến tận Hà Tiên xứng đáng là "Một quốc gia iển, có công ân iển". Đây là tài sản mà thiên nhiên an tặng cho chúng ta, môi trƣờng trong lành với nhiều tài nguyên qu áu. Sự tồn tại và phát triển của con ngƣời liên quan mật thiết đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên .Một trong số tài nguyên giá trị ấy là các loài rong iển. Rong iển có tên khoa học là marine – algae, marine plant hayseawed.
Rong iển là thực vật thủy sinh có đời sống gắn liền với nƣớc. Chúng có thể là đơn ào, đa ào sống thành quần thể. Hình ạng của chúng có thể là hình cầu, hình sợi, hình phiến lá hay hình thù rất đặc iệt. Rong iển thƣờng phân ố ở các vùng nƣớc mặn, nƣớc lợ, cửa sông,vùng triền sâu, vùng iển cạn… Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, thì giá trị sử ụng của các loài rong iển cũng nhƣ các chế phẩm của nó ngày càng đƣợc xác định, phát hiện và mở rộng vào nhiều lĩnh vực kinh tế và sản xuất khác nhau nhƣ trong y ƣợc, công nghiệp thực phẩm, hoá mỹ phẩm, nông nghiệp.
Do tính chất phân ố rộng và tầm quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, Rong iển đã lôi cuốn đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới đi sâu nghiên cứu nhƣ: Dawson (1949, 1954); Chang & Xia (1963, 1976); Fredericq & Hommersand (1989) Abbott & cs (1991). Ở Việt Nam rong iển đƣợc nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX. Những kết quả đáng ghi nhận về điều tra phân loại, sinh thái, nguồn lợi của các tác giả: Dawson (1954), Phạm Hoàng Hộ (1969), Nguyễn Hữu Dinh & cs (1993), Nguyễn Văn Tiến (1991, 1993, 1994, 1999), Đàm Đức Tiến (2000), Nguyễn Hữu Đại (2001), Lê Nhƣ Hậu (2005). Trong lĩnh vực sinh hoá: Lê Nguyên Hiếu & Phan Phƣớc Minh (1980), Trƣơng Văn Lung (2004).
Về lĩnh vực nuôi trồng: Đinh Ngọc Chất & Hồ Hữu Nhƣợng (1986), Dƣơng Đức Tiến & cs (1991), Nguyễn Xuân L & cs (1990, 1991, 1995, 1997), Đỗ Văn Khƣơng & cs (1997). Về lĩnh vực 1 chế iến: Lê Đình Hùng & cs (2002). Đây là những kết quả quan trọng, có nghĩa đối với sự phát triển của hƣớng nghiên cứu sử ụng nguồn lợi rong iển đầy triển vọng hiện nay của nƣớc ta. Các kết quả nghiên cứu nêu trên mới tập trung vào các lĩnh vực nuôi trồng, chế iến một số loài mang tính đại iện (Rong câu, rong sụn…).
Các nghiên cứu về thành phần loài chƣa đƣợc cập nhật, nhiều loài còn nhầm lẫn, trùng tên ẫn đến khó khăn trong việc nghiên cứu, kinh tế - thƣơng mại và chế iến từ nguồn nguyên liệu này. Các nghiên cứu chƣa đi sâu vào khai thác công ụng của các loài rong iển. Đặc iệt là khu vực ven iển ĐBBB, trong đó có tỉnh Thái Bình chƣa đƣợc chú đến trong các cuộc điều tra khảo sát có quy mô. Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài "Nghiên cứu thành phần loài và phân bố các loài rong biển khu vực ven bờ xã Thụy Trường, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”.
2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Từ trƣớc đến nay việc nghiên cứu về rong biển trên thế giới cũng nhƣ ở châu Á và Việt Nam đã đƣợc quan tâm khá nhiều, những nghiên cứu chủ yếu tập trung vào vai trò đóng góp vào nguồn lợi kinh tế, hay nuôi trồng, chế biến. Thành phần loài rong biển cũng nhƣ phân ố của chúng luôn biến đổi, vì vậy thông tin cần đƣợc cập nhật liên tục, đòi hỏi phải có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này hơn nữa, góp phần vào sự đa ạng sinh vật trên thế giới, cũng nhƣ phục vụ tốt hơn nhu cầu của nhân loại. Tôi tiến hành nghiên cứu thành phần loài và phân bố của rong biển tại ven bờ xã Thụy Trƣờng nhằm góp thêm vào cơ sở dữ liệu về tài nguyên rong biển vùng nghiên cứu và làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất quản lý và bảo tồn nguồn lợi rong biển của địa phƣơng.1 Tổng quan các loài rong biển trên thế giới 1.1 Thành phần loài các loài rong biển Tùy thuộc vào thành phần cấu tạo, thành phần sắc tố, đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh sản mà rong iển đƣợc chia thành 3ngành rong chính: 1, Ngành rong Lục (Chlorophyta) 2, Ngành rong Nâu (Phaecophyta) 3, Ngành rong Đỏ (Rho ophyta) Ngành rong Lục: có trên ƣới 360 chi và hơn 5700 loài, phần lớn sống trong nƣớc ngọt, nét đặc trƣng của loài rong này là có màu lục. 1 Hình thái về rong Lục Ngành rong Nâu: có trên 190 chi, hơn 900 loài, phần lớn sống ở biển, số chi, loài tìm thấy trong nƣớc ngọt không nhiều lắm.
2 Hình thái về rong Nâu Ngành rong Đỏ: rong Đỏ là những loại rong biển khi tƣơi có màu hồng lục, hồng tím, hồng nâu. Khi khô tùy theo phƣơng pháp chế biến chuyển sang màu nâu hay nâu vàng đến vàng. Rong Đỏ có 2500 loài, gồm 400 chi, thuộc nhiều họ, phần lớn sống ở biển (Trần Thị Luyến, Đỗ Minh Phụng, Nguyễn Anh Tuấn, Ngô Đăng Nghĩa (2004), Chế biến rong biển, Nxb. Nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh.
3 Hình thái về rong Đỏ 1.2 Nghiên cứu về phân bố các loài rong biển Theo đề tài nghiên cứu “khảo sát hàm lƣợng fucoidan từ một số loài rong biển” của TS. Nguyễn Duy Nhứt – Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha Trang, 2012 có đề cập: - Xét về số lƣợng các loài rong, thì rong Lục (Chlorophyta) trên thế giới chủ yếu phân bố tập trung tại Philippin, tiếp theo là Hàn Quốc, kế tiếp là Indonesia, Nhật Bản và ít hơn là ở Việt Nam với các loài Caulerpa racemosa, Ulva reticulata, Ulva lactuca. Ngoài ra, rong Lục còn phân bố rải rác ở các nƣớc bao gồm: Achentina, Bangladesh, Canada, Chile, Pháp, Hawaii, Israel, Italy, Kenya, Malaysia, Myanmar, Bồ Đào Nha, Thái Lan…. - Rong Đỏ (Rhodophyta) phân bố nhiều ở Việt Nam.
Sau đó cùng với số lƣợng loài tƣơng đƣơng nhau ở Nhật Bản, Chile, Indonesia, Philippin, Canada, Hàn Quốc tiếp theo sau là Thái Lan, Brazil, Pháp, Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Hawaii, Myanmar, Nam Phi, ít hơn nữa là Anh, Bangladesh, Caribbe, Ireland, Peru, Tây Ban Nha, Achentina, Ấn Độ, Italy, Malaysia, 5 Mexico, New Zealand, Mỹ sau hết là rải rác có mặt ở Iceland, Alaska, Kenya, Madagascar, Kiribati, Ai Cập, Israel, Ma rốc, Namibia, Tanzania. - Rong Nâu (Phaeophyta) phân bố nhiều nhất ở Nhật Bản, tiếp theo là Canada,Việt Nam, Hàn Quốc, Alaska, Ireland, Mỹ, Pháp, ấn Độ, kế tiếp là Chile, Achentina, Brazil, Hawaii, Malaysia, Mexico, Myanmar, Bồ Đào Nha. Phân bố về số loài rong biển tuy đã đƣợc tổng kết sơ ộ, tuy nhiên, tuỳ theo diện tích lãnh hải, điều kiện môi trƣờng phát triển, kỹ thuật nuôi trồng khác nhau của các nƣớc mà sản lƣợng rong biển trên thế giới khác với phân bố các loài rong.3 Giá trị của các loài rong biển Theo nghiên cứu của FAO (2003), rong biển có nhiều vai trò quan trọng trong đời sống con ngƣời. Dùng làm thực phẩm Nhiều loại rong biển có giá trị inh ƣỡng cao, chứa nhiều nguyên tố vi lƣợng,vitamin, protein…Đặc biệt trong protein có nhiều axit amin thiết yếu.
Vì vậy từ lâu ngƣời ta sử dụng rong nhƣ một nguồn thực phẩm: dùng làm thức ăn tƣơi (Ulva, Caulerpa, Gracilaria…. Dùng trong y học và dược phẩm Một số rong biển đƣợc dùng trong y khoa vì chúng chứa một số chất nhƣ Io trị bệnh về tuyến giáp trạng, trị béo phì, một số tạo chất kháng sinh chống nhiều loài vi khuẩn. Agar làm môi trƣờng nuôi cấy vi khuẩn; Sargassum, Codium chứa axit alginic dùng làm thuốc phóng xạ, trị bệnh tim mạch; Alginat dùng trong huyết thanh nhân tạo … Rong biển dùng trong nông nghiệp Rong đƣợc làm thức ăn cho gia súc; đặc biệt ở một số nƣớc, rong làm thức ăn chính cho gia súc vào mùa đông thay cho cỏ (ví dụ nhƣ Eteromorpha, Gracilaria. 6 Trong trồng trọt, rong biển còn đƣợc dùng làm phân bón do trong rong biển chứa nhiều K, Ca, P, cung cấp cho đất (Eteromorpha, sargassum, cla ophora…).
Ngoài ra, rong biển có thể chiết xuất ra các loại kích thích tố sinh trƣởng nhƣ Auxin, Ge erelline…từ các loài rong nhƣ: Gracilaria, Atcuata, Acanthophora muscoi es, Pa ina, Dictyota, Caulerpha… Rong biển dùng trong công nghiệp Theo FAO (2003), rong biển đƣợc chiết xuất và chế biến cho ra NaOH, KOH, Io … ùng nhiều trong công nghiệp hóa chất, chế biến thực phẩm, phân bón. Agar đƣợc ùng để hồ và nhuộm vải, kem đánh răng; Alginat ùng trong công nghệ thực phẩm; Carrageenan dùng làm hồ trong công nghiệp dệt, bánh kẹo… Theo Trần Đình Toại và ctv, (2009) cho biết k-carrageenan chiết từ rong Hồng Vân Eucheuma geletinae có thể dùng làm phụ gia chế biến và bảo quản thay thế có hiệu quả và không độc hại so với hàn the trong sản xuất các sản phẩm làm từ tinh bột ( ún…). Ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản Trong nuôi trồng thủy sản rong biển đƣợc nuôi trồng kết hợp với các loài cá, tôm, nhuyễn thể. Rong biển đóng vai trò nhƣ máy lọc sinh học làm giảm ô nhiễm môi trƣờng nƣớc và nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích mặt nƣớc.
Lê Nhƣ Hậu và ctv, (2005) đã nghiên cứu khả năng hấp thụ chất dinh ƣỡng của một số loài rong câu Gracilariaceae (G. bailinae) trong việc xử l nƣớc thải nuôi tôm. Ba thí nghiệm đã đƣợc nghiên cứu: (1) Nƣớc biển bổ sung thành phần muối inh ƣỡng, (2) Nƣớc lấy ở bể nuôi tôm sau 4 tháng nuôi (trong phòng thí ngiệm), (3) Trong ao nƣớc thải nuôi tôm. Kết quả cho thấy rằng trong tất cả các trƣờng hợp, rong câu Gracilariaceae hấp thụ NH4+ trƣớc và sau đó là NO3- và PO43- .Nitrogen và 7 phosphorus đã đƣợc hấp thụ nhanh chóng trong những ngày đầu thí nghiệm.Trong phòng thí nghiệm, sau 24 giờ, hàm lƣợng NH4+ giảm khoảng 80% và trong ao tôm thì tỷ lệ này giảm khoảng 60 - 70%.Trong bể kính, sau 10 ngày, hầu hết lƣợng nitrogen và phosphorus đã đƣợc rong sử dụng, nhƣng trong ao nƣớc thải tôm thì còn lại khoảng 20 - 25%.
Khả năng hấp thụ chất inh ƣỡng không khác nhau nhiều giữa 3 loài rong câu, nhƣng loài rong G. bailinae có xu thế cao hơn. Nghiên cứu của Jones (2000), tiến hành thử nghiệm khả năng lọc của hàu (Saccostrea commercialis) và rong Gracilaria edulis (Gmelin) Silva. Nƣớc đƣợc lấy từ ao nuôi tôm sau đó cho hàu và rong vào.
Kết quả sau 72 giờ (đối với rong biển), cho thấy hàm lƣợng các thông số giảm so với ban đầu, nhƣ : TSS giảm 12%; TN 28%; TP 14%; NH4+ 76%; NO3- 30%; PO43- 35%; chlorophyll a 0,7%. Neori et al.