Chương 1: TONG QUAN 1. Tổng quan về ốc nước ngọt 1. Đặc điểm sinh học của lớp Chân bụng (Gastropoda) Lớp Chân bụng (Gastropoda) là một lớp phong phú va đa dạng trong ngành Thân mềm (Mollusca), chiếm tỉ lệ lớn khoảng 75-80% của số loài thân mềm hiện con ton tại trên Trái đất, với ước tính khoảng 90.000 loài trong số nay đã trở thành hóa thạch không còn tôn tại. Phần lớn các loài thuộc lớp Chân bụng song trong môi trường biên, trong khi một số ít sống trong nước ngọt, ở cạn.
Ngoài ra, cũng có một số loài Chân bụng tồn tại đưới dạng ký sinh trên cơ thé các loài động vật (trai, da gai. by | Mat Chan BEN TRAIL Hình 1. Dinh hướng của vỏ ốc [6] Phan lớn lớp Chân bung (Gastropoda) có cấu trúc cơ thê không đối xứng. Dau của chúng nằm ở phía trước, có mắt và tua cảm giác (râu).
Phần chân là khối cơ khỏe ở phía bung, có để uốn sóng khi bò. Thân (khôi phủ tang) nằm ở phía trên chân, thường có hình đạng giống một túi xoắn. Vỏ thường dạng xoắn chóp hoặc xoắn trong một mặt phẳng. Một số loài còn có nap vỏ (vây) dé bảo vệ phan thân của chúng [5].
Phần lớn Chân bụng ăn thực vật, một số khác ăn thịt bằng cách bat con môi, tiết men tiêu hóa phân hủy con môi rồi hút vào ống tiêu hóa, một số khác lọc thức ăn trong nước hay sống kí sinh. Đặc điểm đáng chú ý của hệ tiêu hóa Chân bụng là có nhiều răng ở lưỡi gai (tới hàng trăm ngàn răng), tiêu hóa ngoại bảo là chủ yếu (mặc du có khối gan có thé tiêu hóa nội bao), da day quay hướng trước ra sau, tuyến nước ngọt có thé tiết các chất hoa tan đá vôi hay chat độc (ốc cối Conus), da day của một số Chân bụng ăn lọc như giỗng Lambris, Strombus có tru gelatin tiết men tiêu hóa bằng cách bảo mòn dan, ruột sau có thể xuyên qua tâm thất. Ngược lại hệ tiêu hóa của một số Chân bụng ki sinh lại tiêu giảm [7]. Xoang bao tim Tam that Tuyến tiên hóa Tâm nhỉ - Tinh mạch phoi Xoang mang áo Óng dan sinh duc Hạch não Tui albumin Tui chứa tinh Ruột Vòi trứng i & Ong dan So.
nước bọt Miệng Hình 1. Cấu tạo của ốc Pulmonata [5] HỆ tuân hoàn. Tim nằm bên trong khoang bao tim, bao gồm | tâm thất và 2 hoặc | tâm nhĩ. Mau từ mang đồ về tâm nhĩ rồi chảy qua tâm thất.
Động mạch chủ từ tâm thất, sớm chia nhánh thành các động mạch đầu và động mạch phủ tạng. Từ động mạch, máu được đẫn về hệ khe hông bao quanh đạ đảy, gan và tuyến sinh đục. Sau đó, máu tập trung về cơ quan hô hap dé lay oxygen trước khi quay trở lại tim. Máu trong hệ tuần hoàn thường không màu (một số loài máu có màu đỏ).
Tan suất nhịp đập của tim thay đôi tùy thuộc vào loài và nhiệt độ môi trưởng. Ở nhiệt độ 20°C, nhịp đập của tim dao động từ 20 đến 40 lần mỗi phút [5]. Hệ hỗ hap của Chân bụng là mang lá đối hoặc phôi. Mang đặc trưng cho Chân bụng sống dưới nước có từ 1 đến 2 mang hướng về phía trước và phía sau cơ the.
Một số Chân bụng chuyên sang đời sông trên cạn thi cơ quan hô hap là phối (một số loải sông ở nước vẫn có phôi). Phôi là thành trong của áo có nhiều mạch máu tạo thành. Trong phỗi có tĩnh mạch phôi lớn và các mạch nhỏ phân nhánh dày đặc. Xoang phôi là một xoang kín, được giới hạn bởi vỏ áo ở trên va mép áo ở phía trước.
khối nội quan ở phía sau. Phôi thông với bên ngoài qua một lỗ nhỏ. Khí một số loài Chân bung ở nước vừa có cả mang vừa có cả phổi (ốc nhdi) nhờ thé chúng có thê song được lâu hơn trên cạn [7]. Hệ bài tiết.
Do cau trúc cơ thê chân bung mat đối xứng nên chi có một số nhóm còn có 2 thận (ở ốc hai tâm nhĩ), còn phần lớn chỉ còn 1 thận, thận phải tiêu biến. Thận thường có hình chữ U, một đầu thông với xoang bao tim qua lỗ thận tim, con đầu kia dé vào xoang áo. Sản phẩm bài tiết của chân bụng ở nước là các hợp chất amoniac hay amine,con của chân bụng trên can là acid uric [6]. Hệ thân kinh và giác quan của chân bụng là mức độ tập trung tế bảo thần kinh thành hạch, trên các dây thần kinh theo mô hình bậc thang kép, đã gặp ở song kinh va vỏ một tam.
Thường có 5 đội hạch lớn: não ở trên hau, điều khiển các giác quan trên đầu, thành hau và bình nang; hạch chân điều khiển chân và trên day thần kinh bên-tạng có các hạch bên (áo), phụ trách vùng áo; hạch mang điều khiên mang và osphradium và hạch tạng điều khiển nội quan. Giác quan của Chân bụng khá đa dạng: xúc giác (tua miệng và bờ vạt áo), cơ quan cảm giác hóa học (osphradium, đôi râu thứ hai), bình nang, mắt ở gốc hay ở đỉnh của đôi tua đầu thứ hai [5]. Hệ sinh dục. Phần lớn chân bụng đơn tính, tuyến sinh duc năm ở khối nội tạng ở cận gan.
Mức độ phát trién của ống dẫn sinh dục thay đổi tuỳ nhóm nhưng phụ thuộc vào sự có mặt của thận phải. Ở nhóm Mang trước hai tam nhĩ, sản phẩm sinh dục trước khi vào xoang do đi qua một phan của thận phải. Một số chân bụng không có cơ quan giao phối, thụ tinh ngoài. O một số chân bụng đơn tính khác ông dẫn sinh duc có cầu tạo phức tap và có nguồn gốc khác nhau [6].
Sự phân bỗ của Ốc nước ngọt Sưối: là loại hình thủy vực nước chảy phố biến ở vùng núi. Sudi đặc trưng ở lòng hep và nông, mực nước thấp và có nền đáy đá hoặc sỏi cát. Suỗi là noi cư trú của nhiều loài ốc với tập tính sống bám trên mat đá tang thuộc các họ Thiaridae, Limnaca, Planorbidac, Triculinae [1], Hydrobioidae [8]. Sông: là thủy vực nước chảy tiêu biéu với đặc điểm lòng sông rộng hon so với suối, nên đáy mềm là cát, cát - sỏi, cát - bùn, bùn nhuyễn [1].
Sông là nơi động vật thân mém phong phú về loài nhưng độ phong phú của các loài 6c nước ngọt không cao. họ Pomatiopsidae va họ Stenothyridae (khu vực phương Đông), họ Thiaridae (vùng nhiệt doi), họ Pachychilidae và họ Pleuroceridae (Bắc Mỹ va Nhật Ban) [8]. Hỗ, ho chứa, dam, ao: là loại thủy vực có dang vùng tring sâu lớn trên dat chứa nước, có thê là nước đứng hoặc nước chảy chậm. Hỗ, đầm ao là noi cư tra của nhiều loài ốc nước ngọt họ Viviparidae [1], họ Planorbidae phân bố nhiều ở các hồ vùng ôn đới hơn các hỗ vùng nhiệt đới [8].
Ruộng lúa nước: là dang thủy vực nhân tạo đặc trưng cho vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới Châu Á, nước nông, ngập nước theo mùa. Óc họ V iviparidae va ốc bươu vàng Pomacea sp. phát triển nhiều ở thủy vực ruộng lúa nước [1]. Tong quan về ấu trùng Cercariae Sán lá song chủ có một vòng đời phức tạp và đa dạng [9].
Từ trứng, chúng phát triển thành sán trưởng thành thông qua các vật chủ trung gian khác nhau. Ốc là kí chủ trung gian đầu tiên, cá là kí chủ trung gian thứ hai. Hầu hết các loài sán lá song chủ thường có vật chủ trung gian thứ hai là cá. Vị trí phân bố của metacercariae trên cơ thé cá có thé khác nhau tùy thuộc vào từng loài san.
Dựa trên kết quả của nhiều nghiên cứu ở Đài Loan. Trung Quốc và Triều Tiên, các loài cá thuộc họ cá chép đã được xác định là kí chủ trung gian chính của san lá gan nhỏ [10], [11], [12]. Động vat và người ăn cá là kí chủ cudi cùng [13]. TAPER MECATHICN: PEOPLE” itp Paw dpd cóc .qœ/dpdx ấu trùng bảotử ấutrùng au tring Kog nang nang đuôi Hình 1.3 Vòng đời của san lá gan nhỏ Clonorchis sinensis (Theo CDC) Giai đoạn au trùng Miracidium: Trứng san theo phân rơi vào nước, chúng nở thành ấu trùng Miracidium (giai đoạn mao ấu) có lông tơ di chuyên tự do trong nước va điểm mắt [5].
Phần lớn cơ thể có tuyển đầu, đoạn sau cơ thê có một đám tế bao mầm, ống tiêu hóa đơn giản. Hệ thần kinh và bài tiết không phát triển. Tuy nhiên, Miracidium không ăn mà tôn tại nhờ vào glycogen dự trữ trong cơ thê nên sông tự đo trong nước một thời gian rồi nhờ tuyến đầu tiết men phân giải lớp biéu mô chui vào tô chức gan của cơ thé ốc. Trong cơ thé kí chủ trung gian, au trùng Miracidium mat lông tơ.
mat điểm mắt và ruột biến thành bào nang Sporocyste. Giai đoạn du trùng bào nang Sporocyst: Bào nang hình tròn hay hình túi, bề mặt có khả năng thâm thấu dinh dưỡng. Bào nang Sporocyst có thẻ xoang lớn, nó sinh sản đơn tính (vô tính) tạo ra nhiều ấu trùng redia [14]. Giai đoạn du trùng Redia: Redia hình túi, cô thé di động, cấu tạo cơ thé có hau va ruột dang hình túi ngắn.
Au trùng Redia lớn lên, phá màng của bảo nang dé ra khỏi tỏ chức gan rồi vào cơ quan tiêu hóa của ốc. Cơ thé au trùng Redia dai ra, hau và ruột phát trién, có hai ông bài tiết. Phía sau cơ thé có một đám tế bảo mầm tiễn hành sinh sản đơn tinh cho nhiều au trùng Cercariae. Có những loài san song chủ không qua giai đoạn au trùng Redia mà phát triển trực tiếp thành [14].
Giai đoạn ấu trùng Cereariae: Cơ thé Cercariae chia làm hai phần: thân và đuôi, bê ngoài cơ thé có móc, có một hoặc hai giác hút. Có hệ thần kinh và hệ bai tiết. Cercariae song tạm thời trong cơ thé ốc, sau đó ra môi trường nước, hoạt động trong một thời gian ngắn, mat đuôi biến thành au trùng có vỏ bọc Metacercariae. Cũng có giống loài sán lá song chủ, âu trùng Cercariae của chúng có thê trực tiếp xâm nhập vào đa của ký chủ, rồi đến mạch máu sau đó qua thời kỳ ấu trùng bảo nang Metacercariae va phát trién thành trùng trưởng thành.
Ngược lại cũng có một số loài khi Cercariae ra môi trường nước mat đuôi rồi hình thành bào nang (kén) bám trên các thực vật thủy sinh thượng đăng hay vỏ ốc. nếu gặp ky chủ ăn vào sẽ phát triển thành trùng trưởng thành [14]. Một só giống loài ấu trùng Cercariae sau khi tách khỏi cơ thé redia hình thành bào nang (Metacercariae) ngay trong cơ thé ốc hoặc chui ra nhưng lại tiếp tục xâm nhập vào cơ thê ốc đó; ốc có âu trùng, ký chủ tiếp theo ăn vào ruột sẽ phát triển thành trùng trưởng thành [5].