MỞ ĐẦU Việt Nam có vị trí địa lý nằm gần vành đai nhiệt đới, cây cối vì vậy mà có sự sinh trưởng, phát triển mạnh mẽ. Thực vật không chỉ dùng làm lương thực cho con người mà còn là kho thuốc điều trị bệnh quý giá. Nguồn dược liệu của nước ta vô cùng đa dạng, phong phú. Hiện nay trên thế giới nói chung cũng như Việt Nam nói riêng, xu hướng sử dụng sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên ngày càng phát triển.
Do vậy, nghiên cứu phát triển thuốc và các sản phẩm chữa bệnh từ thực vật là một xu hướng được quan tâm hiện nay. Trên thế giới, chi Sanchezia (họ Acanthaceae) bao gồm hơn 60 loài vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chi này phân bố ở khu vực Địa Trung Hải, Ấn Độ, châu Phi, châu Úc, Mỹ và một số nước Đông Nam Á. Hầu hết các loài đã có từ lâu năm ở rừng mưa nhiệt đới miền Trung và Nam Mỹ (Ecuador) [22,26,35].
Ở Việt Nam, chi Sanchezia có ở nhiều địa phương như: huyện miền núi Chiêm Hóa, Na Hang tỉnh Tuyên Quang, huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng và một số tỉnh khác (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên) [2,6]. Cây Xăng sê thuộc loài Sanchezia nobilis, chi Sanchezia (họ Ô Rô Acanthaceae ) [40]. Ở nước ngoài nó đã được nghiên cứu tác dụng chống oxy hóa và chống tăng sinh tế bào in vitro [35]. Còn ở Việt Nam, dân gian ta đã truyền nhau sử dụng cây xăng sê như một „„vị cứu tinh” chữa bệnh viêm dạ dày, cách chữa bệnh chỉ cần lấy vài lá tươi rửa sạch ăn với chút muối là cắt cơn đau ngay lập tức, dùng một thời gian là khỏi hẳn hoặc có thể sắc lá khô thay nước chè uống hằng ngày [9].
Tuy nhiên, những nghiên cứu về loài này ở cả Việt Nam và thế giới còn khá ít, mới chỉ có những mô tả sơ lược về hình thái thực vật, chưa có tài liệu nào nghiên cứu chi tiết về đặc điểm hình thái, thành phần hóa học và tác dụng sinh học của cây. Chính vì vậy, khóa luận được tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm thực vật và thành phần hóa học của Xăng sê (Sanchezia nobilis Hook.)‟‟với các mục tiêu: 1. Nghiên cứu được đặc điểm thực vật và xác định được tên khoa học của mẫu cây Xăng sê. Chiết xuất phân lập và xác định được cấu trúc của một số hợp chất từ lá cây Xăng sê.
1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Sanchezia 1. Vị trí phân loại Theo “Hệ thống phân loại về ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)” của tác giả A.Takhtajan, chi Sanchezia có vị trí phân loại như sau [40]: Giới Thực vật: Plantae Ngành Ngọc lan: Magnolipphyta Lớp Cỏ tháp bút: Equisetopsida C. Agardh Phân lớp Mộc lan: Magnoliidae Novák ex Takht Bộ Hoa môi: Lamiales Họ Ô rô: Acanthaceae Chi: Sanchezia 1.
Đặc điểm thực vật và phân bố của chi Sanchezia Ruiz & Pav Cây bụi hay cây cỏ, rễ không có lông, hoa mọc đơn độc hoặc hợp lại thành chùm, thường lớn, có màu vàng, cam, đỏ hoặc tím, mọc ở ngọn, có lá bắc thường có màu, đài 5 thùy, tràng 5, dính nhau thành hình ống, nhị 4, nhị 2 lép nhị 2 thò ra, bao phấn 2 ô. Quả nang, 6-8 hạt, hạt hình cầu [28]. Chi Sanchezia chủ yếu phân bố ở phía Tây Nam Mỹ. Trung tâm của sự đa dạng loài thuộc chi nằm ở Peru và Ecuador.
Một số ít loài phân bố về vùng phía bắc và đông của Bắc Mỹ, Trung Mỹ và vùng biển Caribbean. Chi Sanchezia được mô tả lần đầu tiên bởi được mô tả bởi Ruiz và Pavón vào năm 1794 với hai loài thuộc chi. Đến năm 1964, chi này đã được sửa đổi bởi Leonard và Smith, với 59 loài trong đó 26 loài được mô tả lần đầu tiên đối với khoa học, đồng thời công bố khóa phân loại cho 59 loài này. Năm 2015, Tripp và Koenemann đã thống kê lại lịch sử phát triển của chi Sanchezia, và lập danh lục 55 loài thuộc chi [41].
Theo các nhà khoa học thuộc dự án The Plant List đã xác định được có 75 tên loài thuộc chi Psychotria L. Trong đó có 54 tên khoa học được chấp 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ở Việt Nam, chi này chỉ có một loài, là Xăng sê Sanchezia speciosa Leonard, được Phạm Hoàng Hộ mô tả, và liệt kê trong Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam. Tổng quan về loài Xăng sê Tên khoa học: Sanchezia nobilis Hook.
[2] Tên Việt Nam: Xăng sê, Khôi đốm, Lá ngũ sắc. Mô tả Cây bụi, cao 0,5-1,5 m, thân và gân chính của lá có màu lục, đỏ hoặc vàng, gân bên màu trắng [10]. Lá đơn mọc đối hình chữ thập; cuống lá ngắn, hình trụ; phiến lá hình mũi mác, dài 10-25 cm, rộng 3-7 cm, nhẵn, mép lá hơi lượn sóng, mặt trên có màu xanh đậm, mặt dưới xanh nhạt; hệ gân lông chim, có 9-12 đôi gân bên [14,49]. Hoa mọc thành cụm hoa bông gồm 3 bông nhỏ trở lên, ở ngọn; cuống ngắn; có lá bắc màu lục hay đỏ, hình trứng, đỉnh tù, nhẵn, ôm lấy 1 cụm hoa [14,49,10].
Hoa lưỡng tính, màu xanh lục mờ, mùi nhạt đặc trưng [14]. Đài nhiều, hình vảy, dài 1,5-1,8 cm, rộng 3-5 mm, tròn ở đỉnh [48]. Tràng hình ống tròn, màu vàng có sáp, cao 4-5 cm, rộng 7-8 cm ở phía trên, thu hẹp dần xuống dưới đến 3 mm, nhẵn, các thùy dài3-4 mm, tròn, có khía; chỉ nhị dài, nhị 4 trong đó có 2 nhị phát triển dài 4-4,5 cm, có lông và 2 nhị tiêu giảm [10,49]. Quả nang có 8 hạt [10].
Đặc điểm vi phẫu Lá Vi phẫu gân lá lồi lên ở 2 mặt trên và dưới. Biểu bì trên và biểu bì dưới cấu tạo bởi 1 hàng tế bào đa giác xếp đều đặn nhau. Mô dày trên và mô dày dưới cấu tạo bởi nhiều lớp tế bào thành dày lên ở các góc. Mô mềm cấu tạo bởi các tế bào thành mỏng, gần tròn bên trong có chứa các tinh thể canxi oxalat và các hạt tinh bột, rải rác có các bó mạch phụ.
Libe gỗ xếp thành hình vòng cung gồm libe ở phía ngoài và gỗ ở phía trong. Một số tế bào biểu bì thành lông che chở, lông tiết [14]. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vi phẫu phiến lá: Gồm biểu bì trên và biểu bì dưới cấu tạo bởi 1 hàng tế bào đa giác sắp xếp đều đặn nhau. Mô giậu ngay dưới biểu bì trên cấu tạo bởi 2 hàng tế bào hình chữ nhật sắp xếp đều đặn nhau.
Mô khuyết cấu tạo bởi các tế bào hình gần tròn xếp lộn xộn [14]. Vi phẫu cuống lá hình chén, có các đặc điểm tương tự gân lá, tuy nhiên có thêm lớp mô dày sát lớp biểu bì [14]. Vi phẫu lá được thể hiện ở hình 1.1 [14]: Biểu bì trên Mô dày trên Lông Hạt tinh bột Tinh thể Calci oxalat Gỗ Libe Hình 1. Hình vẽ mô tả vi phẫu lá Thân Thân non Vi phẫu hình tròn.
Cấu tạo từ ngoài vào trong gồm: ngoài cùng là lớp biểu bì cấu tạo bởi một hàng tế bào, có lông che chở đơn bào; tiếp theo là mô dày gồm 6-8 hàng tế bào xếp thành hình tròn khép kín; mô mềm gồm 5-7 lớp tế bào, bên trong có chứa có tinh thể calcioxalat hình kim và các hạt tinh bột đơn; libe gần như hình tròn khép kín, libe ở ngoài, gỗ ở trong, thỉnh thoảng bị gián đoạn bởi một số tế bào mô mềm; mô mềm ruột cấu tạo bởi nhiều lớp tế bào, các tế bào thành mỏng, to, hình đa giác xếp lộn với nhau. Thân già Vi phẫu hình vuông, Cấu tạo tương tự thân non, ngoại trừ có thêm lớp bần bên ngoài cùng. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vi phẫu thân được thể hiện ở hình 1.2 [14]: Lông Biểu bì Mô dày Mô mềm Hạt tinh bột Libe Tinh thể calci oxalat Gỗ Hình 1. Hình vẽ mô tả vi phẫu thân 1.
Đặc điểm bột Bột lá Bột lá có màu xanh nhạt, vị hơi đắng, soi dưới kính hiển vi thấy có các đặc điểm: Mảnh biểu bì, mảnh biểu bì mang lông tiết, mảnh biểu bì mang lỗ khí, lông che chở. Mảnh mô mềm. Mảnh mô khuyết. Mảnh mô giậu.
Mảnh mô dày. Mảnh mạch xoắn. Mảnh mạch điểm.Tinh thể calci oxalat hình kim. Lông che chở, lông tiết.
Bột thân cây Bột có màu xanh lá hơi vàng, vị đắng. Soi dưới kính hiển vi thấy có các đặc điểm sau: Mảnh bần màu nâu. Mảnh biểu bì mang lông che chở. Mảnh mạch xoắn và mạch điểm.
Tinh thể calci oxalat hình kim. Lông che chở [14]. Đặc điểm bột thân được thể hiện ở hình 1.3 [14]: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lông Mảnh mô mềm Mạch xoắn Hạt tinh bột Tinh thể calci oxalat Sợi Mô dày Mạch điểm Hình 1. Hình vẽ mô tả đặc điểm bột thân 1.
Phân bố Trồng ở Tuyên Quang, Nam Định, Hà Nội, Thừa Thiên Huế. Cây có nguồn gốc từ Peru, Ecuador [2]. Thành phần hóa học Kết quả nghiên cứu sơ bộ của Abu S. và cộng sự năm 2015 cho thấy lá xăng sê có chứa các hợp chất thuộc nhóm alcaloid, glycosid, flavonoid, carbohydrat, steroid, phenolic, saponin và tannin [34].
Trong khi đó kết quả định tính của Seline Omondi và J. Omondi năm 2015 cho thấy lá xăng sê có chứa các nhóm chất anthraquinon và saponin, không chứa các hợp chất thuộc nhóm terpenoid, steroid và flavonoid [33]. Từ các bộ phận khác nhau của cây, đã có 14 hợp chất được phân lập và xác định cấu trúc. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Abd Ellah và cộng sự đã phân lập 5 hợp chất matsutake alcohol từ dịch chiết methanol của phần trên mặt đất của xăng sê gồm: - (1-octen-3-ol) (1) - 3-O-β-glucopyranosyl-1-octen-3-ol (2) - 3-O-β-glucopyranosyl-(1-6)-β-glucopyranosyl-1-octen-3-ol (3) - 3-O-β-arabinopyranosyl-(1-6)-β-glucopyranosyl-1-octen-3-ol (4) - 3-O-β-arabinopyranosyl-(1-6)-β-glucopyranosyl-(1-6)-β- glucopyranosyl-1-octen-3-ol (5) [20]. Từ dịch chiết methnol của lá và rễ xăng sê, Ahmed E và cộng sự đã phân lập được 6 hợp chất trong đó có: - 3 cinnamyl alcohol glycosid - 9-O- β -glucopyranosyl trans-cinnamyl alcohol (6) - 9-O-β-xylopyranosyl-(1→6)-O-β-glucopyranosyl-(1→6)-O-β- glucopyranosyltrans-cinnamyl alcohol (7) - Syringin (8) - Một hợp chất neolignan glucoside: 4-O-β -glucopyranosyl dehydrodiconiferyl alcohol (9) - Hai hợp chất benzyl alcohol glycosid: 7-O- β -glucopyranosyl benzyl alcohol (10) và 7-O- β -apiofuranosyl-(1→6)-O- β -glucopyranosyl benzyl alcohol (11) - Ba hợp chất flavonoid cũng đã được nhóm nghiên cứu phân lập được từ dịch chiết methanol của hoa xăng sê, gồm: apigenin-7-O-β–glucopyranoside (12), apigenin-7-Ogentiobioside (13), apigenin-7-O- β–glucuronopyranoside (14) [13]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Công thức cấu tạo các hợp chất đã phân lập được từ Xăng sê 1.
Tác dụng dược lý Tác dụng chống oxy hóa In vitro, dịch chiết methanol có chỉ số ORAC là 55,77± 1,73 µM TE/100 µg.