PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ lâu, xu hướng giới tính thứ ba là một trong những vấn đề được xã hội rất quan tâm và cho đến nay chủ đề này vẫn chưa giảm nhiệt. Gần đây, rất nhiều câu lạc bộ, kênh giải trí hoặc chương trình dành cho những người đồng tính luyến ái đã được thành lập và thậm chí được khán giả chào đón và ủng hộ rất nhiệt tình chẳng hạn như: Câu lạc bộ Niềm tin xanh ở Hà Nội, Ánh Sao Đêm ở Đà Nẵng, Bầu Trời Xanh ở thành phố Hồ Chí Minh, chương trình Người ấy là ai, … Tuy nhiên, các hoạt động dành cho giới đồng tính luyến ái tại Việt Nam vẫn chưa thực sự được quan tâm một cách đầy đủ và cần thiết cũng như chưa có một chính sách xã hội nào bảo trợ cho những suy nghĩ sai lệch về người đồng tính. Điều này có thể không chỉ tác động xấu đến những người đồng tính mà còn đến xã hội nói chung.
Đồng tính luyến ái là vấn đề mang tính chất toàn cầu, không chỉ tồn tại ở riêng một quốc gia, dân tộc hay một nền văn hóa nào. Đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm về vấn đề này, các nghiên cứu phân bố ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, những nước đang phát triển và ngay cả ở các nước theo đạo Hồi, trong đó có Việt Nam. Các nghiên cứu về những người có quan hệ tình dục đồng giới đã được tiến hành với sự kết hợp của nhiều phương pháp trên các lĩnh vực khác nhau đã đem lại những kết quả hữu ích về mặt xã hội. Nhìn chung, đồng tính, song tính và chuyển giới ( viết tắt là LGBT ) là vấn đề không còn quá mới mẻ trong đời sống xã hội hiện đại.
Tuy nhiên, việc nhận thức một cách đầy đủ về cộng đồng người LGBT trong xã hội còn nhiều hạn chế. Mặt khác, các yếu tố chính trị, lịch sử, truyền thống văn hóa, xã hội, định kiến, sự kỳ thị… ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người LGBT. Trong những bối cảnh như vậy, quá trình đấu tranh quyền của người LGBT và nâng cao nhận thức của xã hội cũng như gia đình về cộng đồng người này là một quá trình rất khó khăn và lâu dài. Có thể nói, hầu hết những người đồng tính đều đã từng trải qua sự kỳ thị dưới dạng này hay dạng khác của gia đình và cộng đồng.
Nhiều người trong 11 số họ có hiểu biết khá tốt về HIV và các biện pháp phòng tránh song họ vẫn là nhóm có nguy cơ mắc các bệnh lây qua đường tình dục cao do có nhiều bạn tình và quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su. Phần lớn các nghiên cứu đều tập trung làm rõ những tác động và hệ quả của việc quan hệ tình dục không an toàn cũng như nguy cơ bùng nổ đại dịch HIV/AIDS. Tất cả các tác phẩm đã góp nhặt nên một bức tranh rất sinh động về những người quan hệ tình dục đồng tính. Và bắt đầu từ năm 2005, ngày 17 tháng 5 hàng năm được lấy làm là ngày quốc tế chống sự kỳ thị, phân biệt đối xử với người đồng tính trên khắp thế giới bởi đồng tính luyến ái vẫn còn bị coi là bất hợp pháp ở hơn 80 quốc gia trên thế giới và tại một số nước đôi khi còn tổn tại hình phạt là cái chết dành cho người đồng tính.
Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có một nghiên cứu đầy đủ và hoàn chỉnh về những hệ quả xã hội không mong muốn từ thái độ của gia đình và cộng đồng đối với những người đồng tính luyến ái trong khi đây được xem là một vấn đề rất cấp thiết không chỉ đối với nhóm đối tượng đồng tính luyến ái mà còn tác động không nhỏ đến sự tiến bộ của xã hội Với tất cả những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nhân tố tác động tới thái độ của cha mẹ sinh viên APD đối với người đồng tính luyến ái” với hi vọng nghiên cứu có thể đem lại những kết quả hữu ích về mặt xã hội. Tổng quan nghiên cứu 2. Nghiên cứu trong nước: Trong Tạp chí Khoa học ĐHQGHN năm với đề tài “Định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người đồng tính và chuyển giới ở Việt Nam” được viết bởi Phạm Thu Hoa và Đồng Thị Yến, tác giả đã chỉ ra rằng không những bị kỳ thị, phân biệt đối xử mà người đồng tính, chuyển giới còn dễ dàng bị bạo lực gia đình. Phổ biến nhất là bạo lực thể xác, tâm lý và đặc biệt là bạo lực tình dục.
Việc thiếu kiến thức về đồng tính khiến gia đình, những bậc cha mẹ của người đồng tính dễ rơi vào hoảng loạn, cho rằng con mình đang không được “bình thường” nên cha mẹ thường có những hành vi không kiểm soát dẫn đến đánh đập, xích 12 nhốt, hoặc cấm đoán. Nhiều gia đình không có kiến thức về đồng tính đã đưa con đi tư vấn tâm lý hay “chữa trị” vì nghĩ con có vấn đề về tâm thần. Vấn đề tuổi tác cũng là một yếu tố quan trọng tác động tới thái độ của các bậc phụ huynh đối với cộng đồng LGBT cũng như khi biết con mình là người đồng tính. Cũng trong đề tài “Định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử với người đồng tính và chuyển giới ở Việt Nam”, việc chấp nhận cộng đồng LGBT đối với những người lớn tuổi thường sẽ khó khăn hơn đối với nhóm người trẻ tuổi.
Đa số họ sẽ không chấp nhận được sự “bất thường” này và cho rằng nó cần được loại bỏ, trong khi những người trẻ tuổi sẽ có cách nhìn thoáng hơn và cho rằng những người đồng tính cũng như người bình thường, có quyền yêu nhau và lấy nhau. Năm 2013, với đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng tới mong muốn giới tính của con cái trong các hộ gia đình hiện nay”, qua quá trình nghiên cứu và tổng hợp tài liệu, tác giả Nguyễn Viết Định đã đưa ra kết luận hiện nay nước ta đang phải đối mặt với tình trạng mất cân bằng giới tính và tỷ lệ sinh đang có xu hướng tăng lên. Cứ 100 bé gái thì có tới 115 đến 130 bé trai được ra đời, như vậy cũng đồng nghĩa với việc trong khoảng 20 năm nữa thì Việt Nam sẽ thừa khoảng 2,3 tới 4,3 triệu nam giới. Lý do xuất hiện tình trạng mất cân bằng giới tính này chủ yếu xuất phát từ những định kiến, quan niệm từ lâu vẫn còn hiện hữu trong tâm lý bậc cha, mẹ.
Họ cho rằng có con trai là để nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên và chăm sóc cha mẹ già, còn con gái là phải lấy chồng, con gái theo chồng là hết. Chính những định kiến giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ đã góp phần không nhỏ tác động tiêu cực tới thái độ của bậc cha mẹ đối với cộng đồng LGBT nói chung và đối với những người con thuộc cộng đồng LGBT nói riêng. Ngoài những nhân tố có tác động tiêu cực nêu trên thì vẫn còn những nhân tố có ảnh hưởng tích cực tới thái độ của bậc phụ huynh đối với cộng đồng người đồng tính luyến ái. Dưới sự tác động của thời đại công nghệ 4.0, ngày càng nhiều các nền tảng xã hội, phương tiện truyền thông được ra đời, những bài báo, chương trình có nội dung liên quan đến cộng đồng LGBT cũng trở nên phổ biến hơn.
Do 13 đó việc tiếp cận với những nội dung như vậy cũng ngày càng trở nên dễ dàng hơn đối với những bậc cha mẹ. 14 Nhờ vào phương tiện truyền thông đại chúng, họ sẽ được cung cấp thêm về những thông tin, câu chuyện và vấn đề liên quan tới người đồng tính. Từ đó, bậc cha mẹ sẽ có cái nhìn tích cực, thông cảm hơn đối với nhóm người này. Nghiên cứu quốc tế: Đồng tính luyến ái là một chủ đề nhạy cảm, đã và đang nhận được sự quan tâm của dư luận nói chung và giới khoa học nói riêng trên toàn thế giới.
Thái độ của xã hội đối với người đồng tính và các vấn đề phát sinh được nhận diện qua các nghiên cứu trước đây được triển khai ở nhiều quốc gia tại nhiều thời điểm khác nhau. Bài nghiên cứu “The Significance of Parenting and Parent-Child Relationships for Sexual and Gender Minority Adolescents” của nhóm tác giả W. Roger Mills-Koonce, Peter D. Rehder, and Amy L.
McCurdy viết vào năm 2018 tập trung xoay quanh quá trình công khai xu hướng tính dục của thanh thiếu niên đồng tính, bao gồm các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này và thái độ của cha mẹ họ sau khi biết con cái là người đồng tính đã ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất lẫn tinh thần của thanh thiếu niên. Nhóm tác giả đã chỉ ra sự mâu thuẫn giữa thái độ và hành vi của cha mẹ trong gia đình khi đối mặt với việc con cái họ công khai giới tính có khả năng gây ra sự rạn nứt các mối quan hệ trong gia đình .Đây chính là nguyên nhân chính hình thành gánh nặng tâm lý lên thanh thiếu niên, dẫn tới các hành vi tự gây tổn thương như có ý định tự sát hoặc tự gây thương tích, nhiều thanh niên đồng tính lựa chọn bỏ nhà ra đi như một cách giải thoát. Cũng bàn về thái độ đối với người đồng tính qua việc thu thập thông điệp từ các mối quan hệ thân thiết xung quanh họ, tác giả Monica D. Foust và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Parent and Peer Messages About Homosexuality: Considering the Role of Gender”.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nữ giới và nam giới tham gia khảo sát cung cấp nhiều thông điệp tích cực về đồng tính luyến ái hơn tiêu cực. Điều này được lý giải khi qua thời gian, sự gia tăng dân số ở Mỹ kéo theo thay đổi văn hóa đại chúng khiến thái độ ủng hộ người 15 đồng tính gia tăng trong xã hội. Một nguồn gốc tiềm ẩn dẫn tới việc hình thành thái độ ở người trưởng 16 thành đối với đồng tính luyến ái là những thông tin về giới tính được cung cấp xuyên suốt những năm tháng hình thành nhận thức của họ. Đây là một quá trình lâu dài hình thành nền tảng nhận thức cá nhân về các xu hướng tính dục mà con người sẽ thể hiện thông qua thành kiến ngầm hoặc hành vi ứng xử trực tiếp đối với người đồng tính.
Kết quả nghiên cứu đồng thời chỉ ra có mối tương quan giữa cha và mẹ trong việc đưa ra những thông điệp tích cực hay tiêu cực đối với người đồng tính.