Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu tập tính sử dụng vùng sống của hai cá thể voọc cát bà trachypithecus poliocephalus trouessart 1911 tại vườn quốc gia cát bà hải phòng

Luận văn thạc sĩ phân tích hay nghiên cứu tập tính sử dụng vùng sống của hai cá thể voọc cát bà trachypithecus poliocephalus, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2013

129
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Vùng sống và một số phương pháp nghiên cứu vùng sống

1.2. Khái niệm về vùng sống

1.3. Một vài phương pháp ước tính vùng sống đang được sử dụng

1.4. Kích thước vùng sống

1.5. Quãng đường di chuyển theo ngày

1.6. Phân loại học

1.7. Phân loại học Linh trưởng Việt Nam

1.8. Vị trí phân loại của loài Voọc Cát Bà

1.9. Một số đặc điểm sinh thái và tập tính của loài Voọc Cát Bà

1.10. Đặc điểm hình thái loài Voọc Cát Bà

1.11. Sinh thái và tập tính. Sự chia cắt quần thể

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Mục tiêu chung

2.3. Mục tiêu cụ thể

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Phương pháp điều tra theo tuyến

2.7. Phương pháp xác định các đặc trưng tập tính sử dụng vùng sống

2.8. Phương pháp xác định và đánh giá các mối đe dọa

2.9. Phương pháp nội nghiệp

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm tự nhiên

3.2. Vị trí địa lý, hành chính

3.3. Đặc điểm địa hình

3.4. Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng

3.5. Đặc điểm khí hậu thuỷ văn

3.6. Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.7. Đặc điểm kinh tế

3.8. Đặc điểm xã hội

3.9. Những thuận lợi và khó khăn của khu vực nghiên cứu

3.9.1. Những thuận lợi

3.9.2. Những khó khăn

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Quãng đường di chuyển theo ngày

4.2. Kích thước vùng sống

4.3. Cường độ sử dụng sinh cảnh

4.4. Các mối đe dọa tới loài và sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu

4.5. Đánh giá các mối đe dọa

4.6. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát triển quần thể Voọc Cát Bà

KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu tập tính sử dụng vùng sống của voọc Cát Bà

Nghiên cứu tập tính sử dụng vùng sống của voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus) tại Vườn Quốc gia Cát Bà là một chủ đề quan trọng trong bảo tồn động vật hoang dã. Loài voọc này được xếp vào danh sách các loài nguy cấp và cần được bảo vệ. Việc hiểu rõ về tập tính và vùng sống của chúng sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong công tác bảo tồn. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về sinh thái mà còn giúp xác định các mối đe dọa đối với loài.

1.1. Khái niệm về vùng sống của voọc Cát Bà

Vùng sống của voọc Cát Bà được định nghĩa là khu vực mà các cá thể di chuyển để tìm kiếm thức ăn, giao phối và chăm sóc con non. Việc phân tích vùng sống giúp hiểu rõ hơn về tập tính và sự phân bố của loài trong môi trường tự nhiên.

1.2. Tình trạng bảo tồn voọc Cát Bà hiện nay

Theo Sách đỏ IUCN, voọc Cát Bà được xếp vào nhóm nguy cấp. Số lượng cá thể giảm sút nghiêm trọng do mất môi trường sống và săn bắt. Việc nghiên cứu tập tính sử dụng vùng sống là cần thiết để đưa ra các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu voọc Cát Bà

Nghiên cứu về tập tính voọc Cát Bà gặp nhiều thách thức, bao gồm việc thu thập dữ liệu trong môi trường tự nhiên. Sự phân bố không đồng đều của loài và các yếu tố môi trường như thời tiết cũng ảnh hưởng đến khả năng quan sát. Hơn nữa, sự can thiệp của con người vào môi trường sống của voọc cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Các mối đe dọa từ môi trường sống

Môi trường sống của voọc Cát Bà đang bị đe dọa bởi sự phát triển đô thị và khai thác tài nguyên. Việc phá rừng để xây dựng cơ sở hạ tầng đã làm giảm diện tích sống của loài này.

2.2. Săn bắt và buôn bán trái phép

Săn bắt voọc Cát Bà để buôn bán làm thú cưng hoặc phục vụ nhu cầu tiêu dùng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm số lượng cá thể. Cần có các biện pháp mạnh mẽ để ngăn chặn tình trạng này.

III. Phương pháp nghiên cứu tập tính sử dụng vùng sống của voọc Cát Bà

Nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để thu thập dữ liệu về vùng sống voọc. Các phương pháp này bao gồm theo dõi bằng GPS, quan sát trực tiếp và phân tích mẫu sinh thái. Việc áp dụng các phương pháp này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu.

3.1. Phương pháp theo dõi bằng GPS

Sử dụng thiết bị GPS để theo dõi di chuyển của voọc Cát Bà giúp thu thập thông tin chi tiết về quãng đường di chuyển và kích thước vùng sống. Dữ liệu này rất quan trọng trong việc phân tích tập tính của loài.

3.2. Quan sát trực tiếp và ghi chép

Quan sát trực tiếp các cá thể voọc trong môi trường tự nhiên giúp ghi nhận các hành vi và thói quen sinh hoạt của chúng. Phương pháp này cung cấp thông tin bổ sung cho việc phân tích dữ liệu thu thập từ GPS.

IV. Kết quả nghiên cứu về tập tính sử dụng vùng sống của voọc Cát Bà

Kết quả nghiên cứu cho thấy kích thước vùng sống của voọc Cát Bà có sự biến đổi theo mùa và theo độ tuổi. Các cá thể voọc di chuyển trong một khu vực rộng lớn để tìm kiếm thức ăn và nơi ngủ. Điều này cho thấy sự thích nghi của loài với môi trường sống của chúng.

4.1. Kích thước vùng sống và quãng đường di chuyển

Kích thước vùng sống của voọc Cát Bà được ước tính từ 2 đến 5 km², tùy thuộc vào mùa và nguồn thức ăn. Quá trình di chuyển hàng ngày của chúng có thể lên đến 1 km.

4.2. Cường độ sử dụng sinh cảnh

Cường độ sử dụng sinh cảnh của voọc Cát Bà cho thấy chúng ưu tiên các khu vực có nhiều thức ăn và nơi ngủ an toàn. Điều này phản ánh sự lựa chọn sinh cảnh của loài trong việc tối ưu hóa nguồn tài nguyên.

V. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu voọc Cát Bà

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong các chương trình bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên tại Vườn Quốc gia Cát Bà. Việc hiểu rõ về tập tính và vùng sống của voọc Cát Bà sẽ giúp xây dựng các chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn.

5.1. Đề xuất các biện pháp bảo tồn

Cần thiết lập các khu vực bảo tồn nghiêm ngặt và tăng cường công tác tuyên truyền về bảo vệ voọc Cát Bà. Các biện pháp này sẽ giúp bảo vệ môi trường sống và nâng cao nhận thức cộng đồng.

5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Hợp tác với các tổ chức quốc tế trong việc bảo tồn động vật hoang dã sẽ mang lại nhiều lợi ích. Việc chia sẻ kinh nghiệm và nguồn lực sẽ giúp nâng cao hiệu quả bảo tồn voọc Cát Bà.

VI. Kết luận và tương lai của nghiên cứu voọc Cát Bà

Nghiên cứu tập tính sử dụng vùng sống của voọc Cát Bà là một bước quan trọng trong việc bảo tồn loài này. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp thông tin quý giá mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo. Tương lai của voọc Cát Bà phụ thuộc vào các biện pháp bảo tồn hiệu quả và sự quan tâm của cộng đồng.

6.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tập tính voọc mà còn góp phần vào việc bảo tồn các loài động vật hoang dã khác. Việc bảo vệ môi trường sống là điều cần thiết để duy trì sự đa dạng sinh học.

6.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến tập tính và vùng sống của voọc Cát Bà. Các nghiên cứu này sẽ giúp đưa ra các giải pháp bảo tồn hiệu quả hơn trong tương lai.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu tập tính sử dụng vùng sống của hai cá thể voọc cát bà trachypithecus poliocephalus trouessart 1911 tại vườn quốc gia cát bà hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vùng sống và một số phương pháp nghiên cứu vùng sống 1. Khái niệm về vùng sống Vùng sống của mỗi loài động vật được định nghĩa là “Khu vực di chuyển bởi các cá thể trong các hoạt động bình thường của chúng cho việc tìm kiếm thức ăn, giao phối và chăm sóc con non” [22]. Phân tích vùng sống của một loài động vật là việc vạch ra khu vực mà các loài đó tiến hành các hoạt động bình thường Burt (1943), ghi lại những vị trí mà các cá thể đã được ghi nhận quan sát.

Những thông tin ghi nhận từ việc nghiên cứu và phân tích vùng sống có thể được sử dụng để kiểm tra các học thuyết cơ bản liên quan tới tập tính của động vật, sử dụng nguồn tài nguyên, sự phân bố quần thể hoặc kiểm tra sự tương tác lẫn nhau giữa các cá thể trong quần thể [23]. Kích thước vùng sống có thể chịu ảnh hưởng của nhân tố chủ quan và khách quan. Theo Burt (1943), kích thước vùng sống có thể thay đổi theo giới tính, mùa, mật độ quần thể và có thể theo độ tuổi. Ngoài ra, sự thay đổi kích thước vùng sống của đàn còn chịu ảnh hưởng của kích thước đàn [61].

Trong khi đó, một số ý kiến khác về các loài Linh trưởng lại cho rằng, kích thước vùng sống tương quan với trọng lượng cơ thể [39]. Ngoài những nhân tố chủ quan kể trên, ước tính kích thước vùng sống chịu ảnh hưởng của việc lựa chọn kỹ thuật, phương pháp ước tính. Độ chính xác kích thước vùng sống khi ước tính bị thay đổi khi áp dụng phương pháp hệ thống ô lưới trong việc sử dụng các kích thước ô lưới khác nhau [30]. Một vài phương pháp ước tính vùng sống đang được sử dụng Hiện nay, có nhiều phương pháp được sử dụng để phân tích, ước tính kích thước vùng sống.

Trên cơ sở, xác định vị trí các điểm nghiên cứu về vùng sống nói chung, phân tích vùng sống có thể chia thành 4 phương pháp: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Đa giác lồi tối thiểu (Minimum convex polygons). Mô hình 2 biến số thông thường (Bivariate normal models). Mô hình phi tham số (Nonparametric models). Mô hình đường đồng mức (Contouring models).

Nguồn: Carr &, Rodger 2002 [23] Trong nghiên cứu và ước tính vùng sống của các loài Linh trưởng, các nhà khoa học thường sử dụng một số phương pháp như: phương pháp ô lưới (Grids cell - GC); đa giác lồi tối thiểu (Minimum convex polygons - MCP); phương pháp đa giác lồi tối thiểu có điều chỉnh (Adjusted minimum convex polygons - Ajusted MCP). Việc áp dụng các phương pháp ước tính vùng sống khác nhau trên cùng một đối tượng có thể cho các kết quả khác nhau. Ngoài ra, khi áp dụng phương pháp ô lưới với mỗi loại kích thước ô lưới khác nhau (Tỉ lệ bản đồ khác nhau) cũng có thể làm thay đổi khá lớn kích thước vùng sống [23]. Chẳng hạn, khi nghiên cứu về việc lựa chọn phương pháp ước tính vùng sống của loài Voọc mũi hếch Vân Nam (Rhinopithecus bieti), Grueter và ctv (2008), nhận thấy kích thước vùng sống theo hàng tháng có sự thay đổi đáng kể với mỗi phương pháp, (MCP - 16,96 km2; Adjust MCP - 14,52 km2; và GC - 1,06 km2).

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu từ nhóm tác giả cũng cho thấy tổng kích thước vùng sống tăng từ 24,75 km2 lên 34,25 km2 khi tăng kích thước ô lưới 250m lên 500m [23]. Kích thước vùng sống Kích thước vùng sống của nhóm khỉ ăn lá khác nhau tùy thuộc vào mỗi loài, có thể biến đổi từ vài chục cho tới hàng trăm ha, kích cỡ vùng sống còn thay đổi hàng tháng và chịu ảnh hưởng bởi số lượng cá thể trong đàn hoặc kích cỡ quần thể. Đối với loài Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) kích thước vùng sống của một đàn gồm 32 cá thể là 2,185 km2 [12], Voọc đỏ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một vài tác giả khi nghiên cứu về vùng sống của một số các loài khỉ ăn lá cho thấy kích thước vùng sống có liên quan tới chất lượng cũng như sự phân bố theo không gian và thời gian của nguồn thức ăn [38].

Theo Li & Rogers (2004), chất lượng nơi sống của loài Voọc má trắng (Trachypithecus francoisi) tăng lên được thể hiện ở số loài thức ăn ưa thích của chúng nhiều hơn, điều này cũng sẽ làm tăng sự hấp dẫn của các con cái từ phía con đực, do đó kích cỡ trong đàn tăng lên, phù hợp với chất lượng nơi sống tăng [36]. Trong khi đó theo Boonratana (2000), tỉ lệ lượng hoa và quả trong chế độ ăn của chúng sẽ làm ảnh hưởng tới kích thước vùng sống.1: Kích thước vùng sống của một số loài khỉ ăn lá Châu Á TT Loài Kích thước (ha) Nguồn 1. Voọc đầu trắng 28 - 18 Li & Rogers, 2005 2. Khỉ vòi 138,3 Matsuda et al.

Khỉ tây tạng 18 Zhao & Deng, 1988 4. Voọc mông trắng 36 - 46 Nguyễn Vĩnh Thanh, 2008 5. Voọc Hà Tĩnh 80 Lê Phúc Thịnh & cs., 2009 Vùng sống của một số loài trong nhóm khỉ ăn lá thay đổi hàng tháng. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các tháng là không ý nghĩa.

Kết quả nghiên cứu của Zhou et al. Trong khi đó, theo Matsuda et LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. (2008) khi nghiên cứu về loài Khỉ vòi (Nasalis larvatus) nhận thấy, mức độ sẵn có của các loại quả ảnh hưởng tới vùng sống của chúng. Nhóm tác giả cho rằng sự sẵn có của nguồn thức ăn và mối nguy hiểm từ sự xuất hiện của các loài ăn thịt ảnh hưởng chính tới vùng phân bố của loài [38].

Quãng đường di chuyển theo ngày Độ dài quãng đường di chuyển trong ngày là một tiêu chí quan trọng, có liên quan tới tập tính sử dụng vùng sống của loài. Do vậy, khi nghiên cứu vùng sống của một số loài Linh trưởng, một số tác giả cho thấy độ dài di chuyển trong ngày có liên hệ với tập tính sử dụng vùng sống của mỗi loài, bao gồm: Mức độ phong phú, tính sẵn có và sự phân bố của các loài thức ăn [38]. Nguyễn Vĩnh Thanh (2008) cho rằng chiều dài trung bình di chuyển trong ngày của mỗi đàn Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) là khác nhau (666,3 - 781m). Kết quả phân tích thống kê cho thấy, sự khác nhau không có ý nghĩa.

Theo tác giả, chiều dài di chuyển trong ngày lớn nhất của loài này được ghi nhận tháng 4 năm 2006 vào thời điểm lượng thức ăn cung cấp cho loài là nhiều nhất. Tuy nhiên, kết quả phân tích mối liên hệ cho thấy có khác biệt rõ rệt giữa độ dài di chuyển trong ngày với vật hậu học của các loài thực vật làm thức ăn cho chúng. Quãng đường di chuyển trong ngày cũng thay đổi theo các mùa khác nhau, điều này được giải thích cơ bản thông qua sự chênh lệch về mức độ phong phú của các nguồn thức ăn ưa thích giữa các mùa cũng khác nhau. Zhou et al.

2006, khi nghiên cứu về loài Voọc đầu trắng, nhận thấy chiều dài di chuyển khác nhau lần lượt giữa mùa khô và mùa mưa là 403m so với 471m [65]. Độ dài di chuyển trong ngày của loài Khỉ vòi lớn hơn khá nhiều so với một số loài kể trên, có thể thay đổi phạm vi lớn từ vài trăm đến hàng nghìn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kết quả nghiên cứu của Boonratana (2000) chỉ ra rằng, không có sự tương quan giữa các yếu tố gồm: Lượng mưa hàng tháng, lượng lá non, lượng hoa, quả với chiều dài quãng đường di chuyển trong ngày. Duy nhất, tỉ lệ thành phần lá non trong khẩu phần ăn của loài này tương quan với chiều dài quãng đường di chuyển trong ngày.

Theo tác giả, khi lượng lá non nhiều hơn các loại quả trong chế độ ăn của chúng, độ dài quãng đường di chuyển sẽ lớn hơn, điều này cũng đồng nghĩa đây là thời điểm cho thấy sự đa dạng trong khẩu phần ăn của loài này cũng tăng lên. Ngoài ra, sự gia tăng độ dài di chuyển trong ngày của loài có thể do chúng đã thăm dò, thám hiểm xung quanh và kiếm ăn trên nhiều loại thức ăn [38]. Nơi ngủ Nơi ngủ của một vài loài trong nhóm khỉ ăn lá được ghi nhận là khá đa dạng, bao gồm: Hang [31, 63, 64, 65], vách đá, rìa đá, bờ đá [16, 31, 63, 64, 65] và trên cây [21, 38, 63]. Trong số này riêng loài Khỉ tây tạng được ghi nhận là ngủ trên 5 dạng khác nhau [63].

Tuy nhiên, theo ghi nhận của nhóm tác giả, loài Voọc đầu trắng sử dụng hang ngủ chỉ là tạm thời, khi trong quá trình di chuyển trên đường bất ngờ bị gián đoạn bởi mưa to [65]. Tập tính sử dụng và lựa chọn nơi ngủ của một vài loài trong nhóm khỉ ăn lá được các tác giả cho rằng để hạn chế sự nguy hiểm và bị phát hiện bởi những loài động vật ăn thịt [64]. Theo Zhou et al. (2009), trong suốt quá trình di chuyển theo hướng vào nơi ngủ, loài Voọc đầu trắng thường di chuyển rất nhanh nhẹn nhằm hạn chế sự phát hiện của kẻ thù; sau khi rời khỏi nơi kiếm ăn cuối cùng, chúng thường dành khoảng 30 phút để nghỉ ngơi tại khu vực gần nơi ngủ nhất trước khi ngủ.

Thời gian ngủ của loài này được ghi nhận trong khoảng từ 18h30 đến 19h50, thường sớm vào mùa đông, mùa xuân và muộn hơn vào mùa hè, mùa thu; trước và trong quá trình ngủ, chúng luôn giữ yên lặng [65]. Theo các nghiên cứu của Nguyễn Hải Hà (2003), Nguyễn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Mạnh Hà (2006) đều chỉ ra rằng một điều khá đặc biệt về nơi ngủ của loài Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus laotum hatinhensis) đó là, chúng không thay đổi nơi ngủ trong nhiều năm, chúng thường chọn các hang nhỏ và vách đá để ngủ. Đây là các vị trí bảo vệ chúng khá tốt, tránh được mưa ướt, khí hậu lạnh cũng như tránh được kẻ thù ngoài tự nhiên. Độ cao của một số nơi ngủ khoảng từ 29 - 50m [9, 31].

Loài khỉ vòi thường chọn nơi ngủ là những cây gần bờ sông [21, 38]. Theo Matsuda et al. 2008, vùng sống chính của loài này chạy dọc theo bờ sông, điều này được giải thích thông qua tập tính đặc trưng của loài là quay trở lại những cây ven bờ sông cho việc ngủ đêm. Những cây ven bờ sông có thể là nơi an toàn cho việc tránh những sự nguy hiểm từ những loài ăn thịt trên mặt đất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tập tính sử dụng vùng sống của voọc Cát Bà tại Vườn Quốc gia Cát Bà" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi và môi trường sống của loài voọc Cát Bà, một trong những loài động vật quý hiếm tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tập tính sinh sống của voọc mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn môi trường sống tự nhiên của chúng. Những thông tin này có thể hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những ai quan tâm đến bảo tồn động vật hoang dã.

Để mở rộng kiến thức của bạn về loài voọc Cát Bà, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu phân bố sự biến động hình thái theo độ tuổi của cá thể vooc cát bà trachypithecus poliocephalus tại vườn quốc gia cát bà cát hải hải phòng, nơi cung cấp thông tin chi tiết về sự phát triển và biến đổi hình thái của loài voọc này. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái và kỹ thuật nhân nuôi đon atherurus macrourus linnaeus 1758 cũng có thể mang lại những hiểu biết bổ ích về các kỹ thuật nuôi dưỡng và bảo tồn động vật hoang dã, góp phần vào việc bảo vệ hệ sinh thái nơi voọc Cát Bà sinh sống. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến bảo tồn và sinh thái học.