Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hiện trạng quần thể Voọc Cát Bà 1. Thực trạng hiện nay của Voọc Cát Bà Voọc Cát Bà là loài linh trưởng đặc hữu, không có ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới ngoài đảo Cát Bà, được liệt vào danh sách những loài cực kỳ nguy cấp trong Sách Đỏ Thế Giới và Sách Đỏ Việt Nam. Với sự phát triển của nền kinh tế, sinh cảnh sống của Voọc Cát Bà bị phân mảnh kết hợp với việc săn bắn, buôn bán động vật hoang dã trái phép đã dẫn đến việc suy giảm nghiêm trọng về số lượng cá thể Voọc Cát Bà ngoài tự nhiên.
Theo Nadler và Hà Thăng Long (2000), ước đoán có ít nhất 2400-2700 cá thể Voọc Cát Bà ngoài tự nhiên vào khoảng những năm 60. Tuy nhiên, sau cuộc điều tra trong vòng 3 tháng được tiến hành vào năm 1999 thì chỉ tìm được tối đa 135 cá thể [9]. Và chỉ 10 tháng sau đó, một con số đáng cảnh báo đó là chỉ có 53 cá thể còn lại trên các đảo thuộc Vườn quốc gia Cát Bà [15]. Nhờ có sự mở rộng ranh giới Vườn quốc gia Cát Bà vào năm 2006 và các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt, số lượng cá thể Voọc Cát Bà đã tăng lên hiện nay khoảng 60-70 cá thể ngoài tự nhiên [11].
Hiện nay, vào tháng 8/2014 tại hội nghị Linh trưởng quốc tế IPS số lượng Voọc Cát Bà được công bố là 61 cá thể bao gồm 57 cá thể ngoài tự nhiên và 4 cá thể được nuôi trong điều kiện bán hoang dã tại trung tâm cứu hộ các loài Linh trưởng quý hiếm, VQG Cúc Phương [10,12]. Do số lượng cá thể rất ít, vùng phân bố hẹp, các mối đe họa đến loài và sinh cảnh sống vẫn chưa chấm dứt nên loài này vẫn đang tiếp tục phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Tình trạng bảo tồn Voọc Cát Bà nằm trong danh sách 25 loài Linh trưởng nguy cấp nhất thế giới, cần được xếp ưu tiên trong các hoạt động bảo tồn. Trong Danh sách Đỏ của IUCN 2014 [11], Voọc Cát Bà được xếp ở mức rất nguy cấp – mức CR (Critically Endangered).
3 Hiện tại Voọc Cát Bà ở Việt Nam được xếp vào tình trạng cực ký nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam, thuộc nhóm IB Nghị định số 06/2019/NĐ-CP [2]. Do vậy trong những năm gần đây có rất nhiều các công trình, dự án của các tổ chức trong nước và quốc tế như Dự án Bảo tồn Voọc Cát Bà, FFI, trường Đại học Quốc gia Úc…quan tâm trong việc bảo tồn loài Linh trưởng quý hiếm này. Phân loại học 1. Phân loại học Linh trưởng Việt Nam Quan điểm về phân loại thú Linh trưởng ở Việt Nam thay đổi theo thời gian và rất khác nhau giữa các tác giả.
Chẳng hạn, theo phân loại của Phạm Nhật (2002) cho rằng thú Linh trưởng Việt Nam bao gồm 25 loài và phân loài thuộc 3 họ; Roos (2004) và Tilo Nadler et al. (2007) cho rằng thú Linh trưởng Việt Nam bao gồm 24 loài và phân loài thuộc 3 họ. Trong khi đó Ross ( 2013 ) chỉ ra rằng Việt Nam có 24 loài và phân loài, trong đó có 6 loài và phân loài là đặc hữu của Việt Nam: gồm Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc Cát Bà (Trachypithecus policocephalus poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix nemaeus cinerea), Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis), Vượn đen Cao Vít (Nomascus nasutus nasutus). Tuy có sự khác nhau về số lượng loài và phân loài, nhìn chung các tác giả đều thống nhất rằng khu hệ thú Linh trưởng ở Việt Nam có 3 họ chính: Họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae).
Theo hệ thống phân loại của Ross 2013 khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam được trình bày ở bảng dưới đây: 4 Bảng 1.1: Phân loại khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam theo Ross ( 2013 ) Tên loài TT Phổ thông Khoa học • Cu li lớn Nycticebus bengalensis • Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus • Khỉ cộc Macaca arctoides • Khỉ mốc Macaca assamensis • Khỉ đuôi lợn Macaca leonine • Khỉ vàng Macaca mulatta • Khỉ đuôi dài Macaca fascicularis • Voọc xám Trachypithecus crepusculus • Voọc bạc An Nam Trachypithecus margarita • Voọc bạc Đông Dương Trachypithecus germaini • Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi • Voọc đầu vàng Trachypithecus poliocephalus Voọc Hà Tĩnh Trachypithecus hatinhensis Voọc đen tuyền Trachypithecus ebenus Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeus • Chà vá chân đen Pygathrix nigripes • Chà vá chân xám Pygathrix cinerea • Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus • Vượn đen tuyền Nomascus concolor • Vượn cao vít Nomascus nasutus • Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys • Vượn đen má hung Nomascus siki • Vượn má vàng Nomascus gabriellae • Vượn đen má hung Trung Bộ Nomascus annamensis 5 1. Vị trí phân loại của loài Voọc Cát Bà Trong luận văn này, sử dụng hệ thống phân loại thú Linh trưởng theo hệ thống phân loại của Ross ( 2013 ) vì đây là hệ thống phân loại phản ánh đẩy đủ phân loại học của khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam và được các nhà khoa học đang sử dụng rộng rãi. Vị trí phân loại của Voọc Cát Bà hiện nay như sau: Bộ linh trưởng - Primates Họ Khỉ, Voọc - Cercopithecidae Họ phụ Voọc - Colobinae Giống - Trachypithecus Voọc Cát Bà- Trachypithecus poliocephalus 1. Phân bố của Voọc Cát Bà Theo Phạm Nhật (2002), Voọc Cát Bà phân bố ở đảo Cái Chiêm, tỉnh Quang Ninh [5].
Tuy nhiên, những ghi nhận gần đây cho thấy Voọc Cát Bà chỉ tìm thấy tại Vườn Quốc gia Cát Bà, đảo Cát Bà là nơi duy nhất nuôi dưỡng quần thể Voọc Cát Bà lớn nhất với số lượng khoảng 120 - 150 cá thể năm 1998 [6], 104 - 135 cá thể [21], 52 - 54 cá thể năm 2003 [22], khoảng 65 cá thể năm 2014 [10, 12] 1. Một số đặc điểm hình thái và tập tính của loài Voọc Cát Bà 1. Đặc điểm hình thái loài Voọc Cát Bà Đặc điểm nhận biết: Voọc Cát Bà có bộ lông dày nhưng sợi lông hơi thô và cứng. Cá thể trưởng thành có lông đầu và vai màu vàng nhạt hoặc trắng vàng.
Vùng mông màu xám nhạt. Đầu có mào lông với gốc lông vàng nhạt, mút lông phớt xám. Đuôi dài, thon, dày lông và màu đen. Lông cá thể non mới sinh màu vàng cam [5].
Kích thước: Dài đầu và thân 57,0 cm; dài đuôi 79,0 - 80,0 cm; dài chi trước 12,0 - 14 cm; dài chi sau 16,0 cm; cao tai 4,0 cm, trọng lượng cơ thể 9,0 - 9,1 kg [23]. Sinh thái và tập tính Sinh cảnh sống: Voọc Cát Bà sống trong kiểu rừng trên núi đá ở đảo Cát Bà. Tuy nhiên, nơi sống của chúng rất khác nhau: rừng giàu, rừng nghèo và thậm chí cả ở những chỗ núi đá có cây bụi và dây leo [5]. Chúng ngủ trên vách đá vào mùa nóng và trong hang vào mùa lạnh.
Nơi ngủ được lựa chọn là những vách đá dựng đứng, có nhiều hang nhỏ. Thức ăn: Trong khẩu phần thức ăn của Voọc Cát Bà bao gồm các thành phần thực vật như: lá, chồi non, cuộng lá và quả cây rừng. Tổ chức đàn: Theo ghi nhận của Nguyễn Phiên Ngung (1997), đơn vị xã hội cơ bản của Voọc Cát Bà là 1 đực thường đi với 2 đến 3 cá thể cái cùng các con non ở các thế hệ khác nhau [7]. Theo Nadler và Hà Thanh Long (2000); Rode et al.
Trong khi đó Schrudde (2009), lại cho rằng hai đàn Voọc ở khu bảo tồn có số lượng lớn các cá thể đực, chứ không phải là kết cấu đàn như vẫn thường thấy là có một con đực đầu đàn với một vài con cái và các đời con, cháu [15]. Tuy có sự khác nhau về kích thước đàn, nhìn chung tổ chức đàn của Voọc Cát Bà gồm kiểu đơn vị 1 đực trưởng thành vài cá thể cái và các con non ở các thế hệ khác nhau. Tập tính xã hội: Voọc Cát Bà sống thành đàn, các tập tính xã hội của Voọc Cát Bà đã ghi nhận được bao gồm: di chuyển, nghỉ ngơi, chuốt lông, nô đùa và các hoạt động khác [5, 21, 17, 20]. Rode et al.
Di chuyển và kiếm ăn: Voọc Cát Bà hoạt động ngày, kiếm ăn ngày hai buổi sáng và chiều, trưa nghỉ, hoạt động kiếm ăn của Voọc Cát Bà chủ yếu ở 7 trên cây. Cường độ kiếm ăn của chúng diễn ra mạnh vào từ đầu buổi sáng và giảm dần lúc gần trưa [5]. Sinh sản: Hiện tại chưa có nghiên cứu nào về sinh sản của Voọc Cát Bà, theo ghi nhận của Phạm Nhật (2002) cho rằng Voọc Cát Bà có khả năng sinh sản ở các tháng khác nhau của năm. Đã gặp con mẹ mang con non từ tháng 2 đến tháng 11, tuy nhiên, mùa gặp con mẹ mang con non nhiều nhất từ tháng 4 đến tháng 10 [5].
Các mối đe dọa đến Voọc Cát bà Voọc Cát Bà là loài được xếp vào danh sách những loài Linh trưởng nguy cấp nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Cho đến nay, số lượng cá thể Voọc Cát Bà còn lại ngoài tự nhiên rất ít nhưng các mối đe dọa đến loài và sinh cảnh sống vẫn không dừng lại [18]. Nguyên nhân chính dẫn đến việc suy giảm quần thể đó là tác động từ việc săn bắn trái phép và sự chia cắt quần thể. Săn bắn Săn bắn đã từng diễn ra rất phổ biến trên toàn bộ vùng phân bố của Voọc Cát Bà.
Đây cũng là mối đe dọa chính và là nguyên nhân trực tiếp của việc suy giảm số lượng đối với hầu hết các loài động vật trên đảo Cát Bà, đặc biệt đối với quần thể Voọc Cát Bà và ước tính từ 2500 - 2700 cá thể vào những năm 1960 xuống còn 53 cá thể vào năm 2000, điều này cho thấy số lượng bị giảm đi 98% chỉ trong 40 năm [13]. Kết quả nghiên cứu của Nadler và Ha Thanh Long (2000) cho thấy khoảng 500 đến 800 con Voọc Cát Bà đã bị bắn trong gia đoạn từ 1970 - 1986 [21]. Nadler và Ha Thanh Long (2000) chỉ ra rằng mỗi xã trên đảo Cát Bà có một nhóm thợ săn thông thường từ 3 đến 5 người họ ở trong rừng khoảng 1đến 2 tuần để lấy mật ong, trong thời gian này, không thể mang đầy đủ thịt làm thức ăn do vậy, họ săn bắn động vật hoang dã làm thức ăn thay thế [21]. Stenke (2001) cho biết: Tháng 1 năm 2000 có thông tin một đàn Voọc đã bị bắt 9 con tại khu vực bảo tồn, chỉ còn 2 con thoát và bị thương rất nặng.
Tháng 4 năm 2001 kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Bà đã truy đổi 2 thợ săn và đã thu hai khẩu súng tại khu vực Vạn Tà [8].