phần mở đầu, kết luận, những công trình công bố liên quan đến nội dung luận án, danh mục tài liệu tham khảo, danh sách nhân chứng cung cấp thông tin, phụ lục, luận án đƣợc bố cục thành 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Người Nùng Phàn Slình ở tỉnh Thái Nguyên và những quan niệm liên quan đến tang ma Chƣơng 3: Tang ma truyền thống Chƣơng 4: Sự biến đổi trong tang ma Chương 5: Tang ma của người Nùng Phàn Slình và việc xây dựng đời sống mới 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT Tang ma là một thành tố quan trọng trong đời sống con ngƣời, gắn liền với quan niệm, tín ngƣỡng và tôn giáo tộc ngƣời. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam, các nghiên cứu dân tộc học, nhân học tôn giáo làm cơ sở lý thuyết nghiên cứu luận án.1 – Quan điểm Mác xít về tôn giáo, tín ngƣỡng Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh” (1878), Ph. Ăng-ghen chỉ rõ: “Bất cứ tôn giáo nào cũng chỉ là sự phản ánh hƣ ảo vào bộ óc ngƣời ta những sức mạnh hƣ ảo ở bên ngoài chi phối cuộc sống thƣờng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh mà sức mạnh thế gian mang hình thức siêu thế gian” 1[3, tr. Trong tác phẩm “Lút – Vích Phơ Bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” (1886), Ph.
Ăng-ghen tiếp tục khẳng định: “Tôn giáo một khi đã xuất hiện bao giờ cũng giữ lại một số quan niệm nhất định do quá khứ để lại, cũng nhƣ là trong tất cả các lĩnh vực tƣ tƣởng, truyền thống, là một lực lượng bảo thủ rất lớn. Song những sự biến đổi xảy ra trong số quan niệm đó đều đƣợc phát sinh từ những mối quan hệ giai cấp, nghĩa là từ những mối quan hệ kinh tế giữa những ngƣời gây ra những sự biến đổi ấy”2[4, tr. Khi nói về tác hại của tôn giáo, tín ngƣỡng đối với cuộc sống con ngƣời, trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1843 – 1844), C. Mác chỉ rõ: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị 1 Ph.
Ăng-ghen “Chống Duy-ring”, Nhà xuất bản Sự thật, năm 1984, tr. Ăng-ghen " Lut - Vich Pho Bach và sự cáo chung của nền triết học cổ điển Đức” Mác- Ăng-ghen tuyển tập, Tập 2, Nhà xuất bản Sự thật – 1962, tr. 652 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng nhƣ nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần.Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [50, tr. Theo đó, tôn giáo là chất chỉ có tác dụng làm giảm đau cho con ngƣời, nhƣng không thể làm cho con ngƣời có cuộc sống hạnh phúc.
Muốn cho con ngƣời hạnh phúc là phải xoá tận gốc nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Hạt nhân của tôn giáo chính là niềm tin tôn giáo. Khi đã tin vào thực thể tự nhiên có thể ban phúc hay giáng hoạ, ngƣời ta phải thực hiện niềm tin bằng hành động thờ cúng, dâng lễ vật. Đây chính là vấn đề cốt lõi đảm bảo cho sự tồn tại của hành động thờ cúng trong tang ma của ngƣời Nùng Phàn Slình.
Nhƣ vậy, niềm tin của ngƣời Nùng Phàn Slình vào các lực lƣợng siêu nhiên, mang tính thiêng liêng, đƣợc chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hƣ ảo, thông qua hành lễ của đội ngũ thầy Tào và gia quyến. Cƣ dân Nùng Phàn Slình đã thực hiện hành vi tôn giáo với một hệ thống nghi lễ tang ma, báo hiếu hết sức chi tiết. Hành vi ấy nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng nhƣ con đƣờng dẫn linh hồn từ trần thế sang thế giới bên kia theo hệ thống quy tắc nhất định. Hành vi ấy có sự thay đổi, thêm bớt ở mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi hoàn cảnh địa lý - văn hóa.
Đó là sự biểu đạt lòng thành kính, cầu xin đấng siêu nhiên, tổ tiên và linh hồn cha (mẹ) ban tặng sự bình an, thịnh vƣợng, an ủi ngƣời sống, làm giảm nỗi sợ hãi và sự đau buồn phải chia lìa ngƣời thân. Chính vì vậy, khi tiếp cận quan điểm về tôn giáo của chủ nghĩa Mác- Lê-nin, luận án sẽ có đƣợc những định hƣớng đúng khi đề xuất những giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại trong tang ma của ngƣời Nùng Phàn Slình hiện nay.2 - Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng Đảng, Nhà nƣớc ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có các quan điểm chỉ đạo cụ thể về vấn đề tôn giáo, tín ngƣỡng. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với ngƣời theo tôn giáo thì đức tin tôn giáo và lòng yêu nƣớc không hề mâu thuẫn. Một ngƣời dân Việt Nam có thể vẫn là một ngƣời dân yêu nƣớc, đồng thời cũng vẫn là một tín đồ chân chính.
Với Ngƣời: Kính chúa gắn liền với yêu nƣớc, phụng sự nhân dân và phụng sự tổ quốc, nƣớc có vinh thì đạo mới sáng, nƣớc có độc lập thì tín ngƣỡng mới đƣợc tự do. Từ khi ra đời (1930) đến nay, các Nghị quyết của Đảng đều nhất quán bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng tôn giáo và không tín ngƣỡng tôn giáo của nhân dân. Nghị quyết đại hội VII (1992) của Đảng ghi rõ: Tín ngƣỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) tiếp tục khẳng định: Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc.
Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân… Động viên giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”… Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngƣỡng tôn giáo làm phƣơng hại đến lợi ích chung của đất nƣớc, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân”. Nhiều sắc lệnh, nghị quyết và nghị định đã được Chính phủ Việt Nam ban hành trong các thời kỳ đều bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng của nhân dân, nhƣ sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955, Nghị quyết số 297/CP ngày 11/11/1977 của Hội đồng chính phủ “Về một số chính sách đối với tôn giáo”, Nghị định 69/HĐBT, ngày 4/3/1991 “Về các hoạt động tôn giáo”, Nghị định số 26, ngày 19/4/1999 “Về các hoạt động tôn giáo”, Nghị định số 26 ngày 19/4/1999 “Về các hoạt động tôn giáo”. trong đó, Nghị quyết Trung ƣơng lần thứ bảy (khoá IX), số 25 – NQ/TW, ngày 12/3/2003 đã nêu rất rõ quan điểm của Đảng ta về công tác tôn giáo “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Nghị điịnh số 22/2005 NĐ/CP hƣớng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngƣỡng tôn giáo (2004)1 [78, tr.
Nhƣ vậy, Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam luôn coi tín ngƣỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của nhân dân. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng ta cần thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng của công dân, động viên giúp đỡ đồng bào … sống “tốt đời, đẹp đạo”. Tiếp cận quan điểm này, luận án sẽ có những đề xuất những biện pháp đúng để bảo tồn, khai thác những giá trị văn hoá và giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong tang ma của ngƣời Nùng Phàn Slình ở tỉnh Thái Nguyên.3 – Quan điểm của giới khoa học về tôn giáo, tín ngƣỡng Trong số các chuyên gia hàng đầu của thế giới về tôn giáo học, có thể nêu tên giáo sƣ, tiến sĩ X.A Tocarev, nhà nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng của Liên Xô thời Xô Viết.
Trong nhiều công trình về tôn giáo, tín ngƣỡng của ông, có một số công trình giúp ngƣời nghiên cứu có thể tham khảo khi xác định cơ sở lý luận của đề tài. Đó là công trình công bố năm 1979, đăng tải trên tạp chí Dân tộc học Xô Viết nhan đề: “Về tôn giáo nhƣ hiện tƣợng xã hội” (suy nghĩ của nhà dân tộc học)2 [68]. Để minh hoạ cho quan điểm của mình, tác giả đã cho công bố một loạt các bài nghiên cứu, trong đó có bài rất có giá trị về “Tập tục mai táng, ý nghĩa và nguồn gốc của chúng”, đăng trong “Tạp chí Tự nhiên”, năm 1985. Ý chính - Ban tôn giáo Chính phủ “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Hà 1 Nội, năm 2006 (tr.A Tocarev “Về tôn giáo như hiện tượng xã hội, suy nghĩ của nhà dân tộc học” (Tiếng Nga).
Tạp chí Dân tộc học Xô Viết, số 3, năm 1979 (Bản dịch của Giáo sư, tiến sỹ Phan Hữu Dật) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của tập tục mai táng, theo tác giả, là thiết lập mối quan hệ qua lại trần tục và thiêng liêng giữa các thế hệ, chính xác là giữa ngƣời sống và ngƣời chết1[69]. Trong tác phẩm Các hình thái tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng, X.A Tocarev cũng coi ma chay là một trong những hình thái biểu hiện của tôn giáo sơ khai [67]. Theo ông, dấu hiệu của sự xuất hiện tôn giáo sớm nhất là vào thời kỳ cổ đại, biểu hiện của nó rất đơn giản nhƣ việc bôi màu lên da ngƣời chết, chôn cất ngƣời chết trong các tƣ thế không bình thƣờng, hoặc chôn công cụ, v. Trong số 15 loại hình tôn giáo nguyên thuỷ mà tác giả X.A Tocarev đã phân chia, chúng tôi chỉ tiếp cận một số loại hình: Ma thuật làm hại, ma chay, thờ cúng tổ tiên và đạo Shaman để nghiên cứu về tang ma của ngƣời Nùng Phàn Slình ở Thái Nguyên.
Tiếp cận loại hình Ma thuật làm hại, chúng tôi không xem xét quan điểm của X.A Tocarev khi quy mọi bệnh tật, chết chóc là do sự phù phép của con ngƣời ở giai đoạn tan rã của xã hội nguyên thuỷ. Chúng tôi chỉ quan tâm tới yếu tố ma thuật trong tang ma. Đó là các thầy phù thuỷ có khả năng dùng lời phù chú, phép thuật để giáng hoạ xuống con ngƣời, khiến ngƣời ta sợ hãi.