đặt vấn đề và giải quyết vấn đề “thích ứng” của Freud. Đó là quan điểm lý giải sự thích ứng của nhân cách lr0ng quan hệ với những hiện lojợng thực tiễn diễn ra lr0ng cơ thể. Việc ông nêu lên vai lrò của 16 “vô thức” tr0ng việc điều chỉnh hành vi, vai trò và cơ chế điều chỉnh của “cái lôi, sự có mặt của “cái siêu lôi” là những vấn đề của lâm lý học nhân cách lúc sấy giờ. Hhững “cơ chế sả0 vệ lâm lý” của “cái lôi” có nhiều áp dụng lr0ng lâm bệnh học.
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của S.Freud là ông đã đề ca0 cái vô thức, nhìn nhận dojới góc độ sinh vật luận, làm mờ nhại đi ý thức mang lính xã hội của sản chất c0n ngojời. Freud đã giải thích một cách duy lâm sản chất nhân cách, không khám pha dojoc những cơ chế quan lrọng nhất về quá trình thích ứng của nhân cách lr0ng quá trình phái triển của nó. Sau này, một số lác giả tr0ng lrojờng phái phân lâm học mới đã kế lục sự nghiệp nghiên cứu của ông, họ đã liếp thu những quan điểm liễn bộ và cũng đoa ra phê phán đối với những hạn chế của S. Tiêu siêu là carl Jung, Alfred Adler, Karen h0rney, Erich FrOmm va Erik EriksOn.
Tuy mdi ngojời có một cách đi riêng, s0ng họ cũng đề cập bằng cách này hay cách khác hai liền đề lý luận về thích ứng của S. Trojớc hết những nhà phân lâm học mới không đồng ý với S. Freud dành ch0 “cái nó” nhiều quyền lực nhơi thế. họ ch0 rằng †r0ng quá trình thích ứng thi vai trò “cái lôi” lớn hơn nhiều.
bởi vì “cái lôi” lr0ng khi thực hiện vai trò của mình nó phải liến hành: quan sát, tri giác hOàn cảnh, phải suy nghĩ tìm ra lời giải tr0ng các tình huống, phải ra mục đích hành động, phải sáng †ạ0, phải ghi nhớ. bởi vậy vai trò của nó lr0ng hành vi thích ứng phải ngang bằng với vai lrò của “cái nó” chứ chơia muốn nói ca0 hơn. Điều đặc siệt là các nhà phân lâm học mới chú ý hơn đến vai trò của yếu lố xã hội lr0ng việc quy định hành vi thích ứng của nhân cách, tức là chú ý đến các quan hệ xã hội mà nhân cách gia nhập và0. Quyết định luận sinh vật của hành vi thích 17 ứng ở S.
Freud siêu hiện rất rõ tr0ng học thuyết của ông về phát triển “tinh dục ấu thơ”, với lý luận “cố định phái triển (Fixali0n)” của nhân cách ở một giai đ0ạn phát triển tình dục ấu thơ của lúc còn bé. các nhà phân lâm học mới xem lính quy định đó chỉ là một yếu lố tr0ng l0àn sộ lính quy định phát triển của c0n ngơiời có lính xã hội. cái quyết 18 định chủ yếu thuộc về yếu lỗ xã hội. Một số nhà phân lâm học mới còn đi xa hơn, đã xem sự thích ứng của nhân cách nhơ| là cái mang nội dung xã hội, lức là xem khả năng thích ứng thể hiện ở việc c0n ngojời thiết lập đojợc quan hé tinh cam, gan 16 voi mhimg ngooi khac.
Thing quan điểm này đơjợc hai lác giả là Erich Fr0mm và Erik Eriks0n quan lâm và sàn đến rất chỉ Hiết tr0ng lý thuyết của các ông. Tâm lý học hành vi (J. Wais0n) nghiên cứu vấn đề thích ứng. Tâm lý học hành vi ra đời, ngojời đại diện là J.
The0 quan điểm của Wals0n thì khi nghiên cứu đời sống lâm lý của cỦn ngơjời không thé lý giải bằng các khái niệm ý thức chung chung đơiợc mà phải lấy những hành vi quan sát đojợc, đÓ đạc đojợc, quan sat dojgc, du d0an dojoc lam đối †ơJợng nghiên cứu. Vấn đề thích ứng đojợc lý giải nhơt thề nà0 dojới quan điểm của Tâm lý học hành vi? Tâm lý học hành vi ch0 rằng mọi hành vi ứng xử cua cOn ngojời đơjợc hình thành thông qua quá trình học lập và lập nhiễm, là quá trình các cá nhân học đơjợc những hành vi mới ch0 phép nó giải quyết những nhu cầu đòi hỏi của cuộc sống. Vậy nhân cách có thích nghỉ đơjợc hay không phụ thuộc vàO việc học đojợc hay không học đojợc những hành vi mới để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống. IIgojời nà0 thích nghi tốt là ngojời hình thành ch0 mình nhiều hành vi mới để giải quyết các vấn đề xung quanh, ngơoiợc lại, những ngơjời kém thích nghi là những ngơjời không học đơjợc những hành vi mới đó.
bên cạnh đó, tam lý học hành vi cũng sàn đến yếu lố kinh nghiệm của cá nhân lrojớc đó cộng với yếu lố †hoIJởng, phạt tr0ng việc hình thành hành vi mới. Tâm lý học hành vi cô điển xây dựng lý thuyết về thích ứng của 19 nhân cách dựa trên những thành lựu của ngành †âm lý học động vật mà các lác giả liêu siểu là Th0rndike, Pavl0v. Tâm lý học hành vi đã th0dt ra khỏi quan 20 miệm duy lâm, những lại c01 cÔn ngojời nhơi mội cái máy bi cơ khí h0á, phản ứng các sự kiện †he0 cách đã định lrojớc, lâm lý ngojời là hàng lOạl các phản ứng hành vi sên ng0ài. Đề khắc phục những hạn chế này, thuyết hành vi mới ra đời, các lác giả liêu siểu nhơ Alsert bandura, Julian T0Her.
Với những khái niệm mới nhơi: “hành vi lạ0 tác”, “hành vi học lập xã hội”, “hành vi học lập the0 quan sát” †r0ng các †ơi loJởng của các nhà hành vi mới, sự thích ứng còn là kết quả của hành vi đơjợc củng cố bằng sự lự thojởng, lự phạt ở bên lr0ng mỗi c0n ngojời. The0 banduea hành vi đó thể được lập nhiễn thông qua việc thgởng gián liệu từ quan sát hành vì qia nggời khác và biết! legớc những giải thgởng ch0 nếu oản thân đó những hành vỉ giống nha vậy [17]. Ở đây, bandura đã đơia nhắc đến quá †rình chú ý, gợi nhớ, lái lạ0 và khuyến khích/động viên. Tức là có nói đến cái lôi là lông hợp những quá lrình ý thức với suy nghĩ và nhận thức.
Vậy lý giải ch0 hành vi thích ứng của cá nhân sẽ đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn. Một oqu điểm nữa là nó khắc phục cách nhìn thụ động đối với hành vi thích ứng lr0ng quan niệm của thuyết hành vi cô điển, khẳng định tích cực của hành động. c0n ngơjời liến hành hành động phù hợp với ý nghĩa của kích thích và bởi vậy nó điều chỉnh hành vi sằng cách điều chỉnh ngay ý nghĩ bên †r0ng của nó. Tâm lý học nhân văn nghiên qu vấn đề thích ứng.
Tâm lý học nhân văn ra đời và có ảnh hoJởng rộng và0 những năm 1960 và 1970. Đại siêu nồi sật nhất là Asraham MaslOw va carl I0gers. các lác giả này đã phê phán Freud và những ngơiời khác the0 phân tam hoc chi nghiên cứu khía cạnh rối l0ạn cảm xúc thuộc sản chất cÚn ngojời. còn những nhà lâm lý học hành vi lại lỏ ra hạn chế và nghè0 nàn lr0ng cách 21 nhìn đ0 họ lừ sỏ những sức mạnh ý thức và vô thức đề chỉ lập trung và0 quan sát khách quan hành vi công khai của cÔn ngojời.
Tâm lý học nhân van xay dung mot quan điểm “thích ứng” mới, lay cOn ngojdi làm trung lâm. Hhững nghiên cứu của Masl0w và T0gers nhấn mạnh đến sức mạnh và 22 khái vọng của c0n nggjời, tu đ0 ý chí, có ý thức và phát huy liềm năng của mình. họ lôn vinh và lạc quan bản chất c0n ngojời, mô lả cŨn ngoiời là những sinh vật chủ động, sáng lạ0 gắn liền với sự lrojiởng thành và lự nhận thức. Asraham Masl0w nổi tiếng với lý thuyết về sự “lự khẳng định” (self — aclualizali0n).
Ông ch0 rằng động lực chính của nhân cách là m0ng muốn trở thành cái mà nó có thê thực hiện sằng lất cả khả năng, ý chí của mình. cŨn ngojời thích ứng chính là nó cần phải thể hiện ra nhơ| nó có. IIgojợc lại, sự thất sại lr0ng việc lự khẳng định sản thân thì khả năng thích ứng cũng bị ảnh hơiởng. Vì vậy ông cũng đề cập đến sự giá0 dục không đầy đủ và những sài lập không đúng cách khi còn nhỏ có thể dẫn đến sự thất pai dé khẳng định sản thân lúc trolởng thành (tức là nói đến quá lrình thích ứng sau này).
Masl0w đoỊa ra dẫn chứng rằng các cậu sé đojợc dạy những phẩm chất nho lính nhạy cảm, thái độ không đúng mực sẽ that sại khi thê hiện vai lrò giới của mình. ITho\ vậy điện mạ0 ngÖài bẩm sinh của chúng không thể đảm sả0 ch0 chúng phát triển h0àn thiện. Iiếu trẻ đơjợc sả0 vệ quá mức, không đơjợc học những hành vi mới, khám phá những ý †oJởng mới hay rèn luyện những kỹ năng mới thì lúc lrolởng thành chúng có thể sị kìm hãm năng lực hành dong dé khang dimh pan than. Tom lai, khang định lính lích cực, lính tron ven cua mhan cach, c.
T0gers c0i trọng phẩm chất ty ý thức của nhân cách, lự đánh giá, vai trd của chúng lr0ng điều chỉnh hành vi, làm ch0 nhân cách thích ứng đơiợc với cuộc sống. Ông cũng nghiên cứu kỹ các quan hệ giữa cảm xúc, tình cảm, với “tự đánh giá” lr0ng s0 sánh đối với những đánh giá của ngojời khác, giữa “tu damh gia” và các kinh nghiệm của bản thân. IIghiên cứu sự thích ứng 23 của nhân cách đặc siệt phải di sâu tim hiểu đơjợc những nội dung của “cái lôi”, các thành phần cấu trúc của nó. Sự thích ứng của nhân cách đojợc thể hiện rõ lr0ng các mối quan hệ với những ngojời xung quanh.
Tâm lý học Xô Viế! nghiên qu vấn đề thích ứng 24 Tâm lý học Xô Viết là nền lâm lý học lấy triết học Mác — Lênin làm cơ sở lý luận và phojơng pháp luận để nghiên cứu đời sống lâm lý của chủ thể. Với những công trình nghiên cứu của các nhà lâm lý học Xô Viết nồi liếng nhơi L. đã đánh dấu một thời kỳ phát triển của lâm lý học thực sự kh0a học lr0ng nghiên cứu tam lý cŨn ngo|ời. các nhà lâm lý học Xô Viết đã ý thức rất rõ sự sai lam, that pai của các quan điểm của các nhà lâm lý học lừ sau khi giải quyết vấn đề thích ứng của nhân cách.
Sai lầm của các quan điểm trojớc đó khi sàn đến vấn đề c0n ngojời thì Phân lâm học ch0 rằng, c0n ngơjời là sinh vật với những động lực ban năng sinh vật mù quáng, hOặc là “cái máy phản ứng” nho thuyết hành vi đã phát siêu, hay là một “cái lôi” thầm kín, tự nó, chẳng có quan hệ với một ai, chỉ muốn “tự thể hiện” mình.