Tổng quan nghiên cứu

Thị trường du lịch sinh thái tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đang chứng kiến sự dịch chuyển mạnh mẽ khi nhu cầu nghỉ dưỡng xanh cuối tuần của người dân đô thị tăng trên 20% mỗi năm. Xã đảo Long Sơn thuộc thành phố Vũng Tàu, nằm cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 100 km và cách trung tâm thành phố Vũng Tàu 12 km về phía Tây Nam. Với tổng diện tích tự nhiên 92 km² (tương đương 3.702,6 ha), Long Sơn sở hữu cảnh quan sinh thái phong phú với hơn 80% diện tích là đất ngập mặn, bãi bồi ven biển và hệ thống đồi núi tự nhiên.

Mặc dù sở hữu tiềm năng sinh thái đa dạng cùng các làng nghề truyền thống đặc sắc, hoạt động khai thác du lịch tại Long Sơn trước đây chủ yếu diễn ra tự phát, thiếu các định hướng quy hoạch đồng bộ khiến giá trị tài nguyên chưa được khai phóng tương xứng. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện các điều kiện tự nhiên gồm địa hình, khí hậu, tài nguyên nước và hệ động thực vật; từ đó xác lập các định hướng và giải pháp nhằm khai thác bền vững tài nguyên sinh thái phục vụ du lịch.

Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại 11 thôn thuộc xã đảo Long Sơn, đồng thời mở rộng liên kết với các vùng phụ cận thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và tuyến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai. Phạm vi thời gian khảo sát thực trạng bao quát từ năm 2007 đến năm 2013 và đề xuất giải pháp định hướng giai đoạn 2014 – 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, nâng cao sinh kế cho hơn 13.000 cư dân trên đảo và đa dạng hóa sản phẩm du lịch chất lượng cao cho tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển du lịch sinh thái của Kreg Lindberg (2000) cùng nguyên lý du lịch sinh thái từ Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế. Khung lý thuyết vận dụng mô hình tương tác đa chiều giữa 3 trụ cột then chốt: Bảo tồn tính toàn vẹn của hệ sinh thái – Chia sẻ lợi ích kinh tế với cộng đồng địa phương – Nâng cao nhận thức và trải nghiệm có trách nhiệm của du khách.

Bên cạnh đó, luận văn tích hợp lý thuyết phát triển du lịch bền vững và lý thuyết du lịch dựa vào cộng đồng. Bốn khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Tài nguyên du lịch sinh thái: Các giá trị tự nhiên đặc thù trong một hệ sinh thái cụ thể gắn liền với giá trị văn hóa bản địa không thể tách rời (theo GS.TS. Phạm Trung Lương).
  2. Hệ sinh thái rừng ngập mặn: Vùng đệm sinh học ven biển giữ vai trò điều hòa vi khí hậu và bảo tồn nguồn lợi thủy hải sản.
  3. Tính mùa vụ trong du lịch: Sự dao động của dòng khách dưới tác động của các nhân tố tự nhiên như lượng mưa và nhiệt độ.
  4. Sức chứa sinh thái: Giới hạn tối đa về lượng du khách mà một vùng tự nhiên có thể tiếp nhận mà không làm suy thoái môi trường.

Nghiên cứu phân loại tài nguyên thành 4 nhóm cơ bản (địa hình, khí hậu, nước, động thực vật) để định vị 7 loại hình du lịch sinh thái chuyên biệt: tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao, khám phá, nghiên cứu học tập và chữa bệnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tích hợp linh hoạt các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước như Ủy ban nhân dân xã Long Sơn, Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Viện Nghiên cứu Hải sản.

Cỡ mẫu điều tra thực địa bao gồm 150 du khách và 50 hộ gia đình, chủ cơ sở kinh doanh bè hàu tại địa phương. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đối với khách du lịch (phân theo độ tuổi, mức chi tiêu, nguồn gốc địa lý) và chọn mẫu mục đích kết hợp thuận tiện đối với các hộ nuôi trồng thủy sản. Việc lựa chọn quy mô mẫu này đảm bảo tính đại diện thống kê, giúp phản ánh chân thực thị hiếu du khách đô thị cũng như năng lực cung ứng dịch vụ của cộng đồng cư dân.

Các phương pháp phân tích chính được sử dụng gồm phương pháp thu thập và xử lý tư liệu, phương pháp khảo sát thực địa và phương pháp cân đối đối sánh. Tiến trình nghiên cứu thực địa được triển khai qua 3 đợt rõ rệt: Đợt 1 khảo sát di tích Nhà Lớn và điểm tham quan đảo; Đợt 2 khảo sát các tuyến kết nối Đồng Nai – Long Sơn – Long Hải – Vũng Tàu; Đợt 3 đánh giá chi tiết cơ sở vật chất và hiện trạng tài nguyên tự nhiên. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm đối chiếu chéo số liệu báo cáo hành chính với thực tế sinh thái tại hiện trường, triệt tiêu sai số và đảm bảo tính khách quan cho các kết luận khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về tài nguyên địa hình và khí hậu, Long Sơn sở hữu địa hình độc đáo dạng bán đảo nối liền bởi cầu Bà Nanh từ năm 2002. Quần thể núi Nứa chiếm 30% diện tích đảo lớn với 3 đỉnh cao hình thế chân vạc: đỉnh Bà Trao (183 m), đỉnh Hố Rồng (120 m) và đỉnh Hố Vông (trên 100 m). Nền nhiệt trung bình năm duy trì ở mức 27°C (mát hơn các khu vực lân cận 2°C – 3°C), độ ẩm trên 80% cùng tổng số 2.850 giờ nắng/năm. Lượng mưa bình quân đạt khoảng 1.600 mm/năm nhưng phân bổ không đồng đều, trong đó 90% lượng mưa tập trung vào mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11) và chỉ 10% rơi vào mùa khô.

Thứ hai, về thảm thực vật ngập mặn, khu hệ thực vật xã đảo Long Sơn ghi nhận 119 loài thực vật bậc cao thuộc 62 họ có đời sống liên quan đến rừng ngập mặn. Trong đó, nhóm cây ngập mặn chủ yếu chiếm 28 loài (13 họ), nhóm cây tham gia ngập mặn chiếm 41 loài (24 họ) và nhóm di cư chiếm 50 loài (25 họ). Quần xã ưu thế tuyệt đối là đước đôi (Rhizophora apiculata) và mắm trắng (Avicennia alba).

Thứ ba, về đa dạng động vật thân mềm (ĐVTM) hai mảnh vỏ, nghiên cứu phân tích 66 loài ĐVTM thuộc 21 họ tại 4 vùng rừng ngập mặn trọng điểm của Việt Nam. Long Sơn xếp vị trí thứ 2 với 37 loài thuộc 16 họ, chỉ đứng sau Vườn Quốc gia Cà Mau (48 loài thuộc 18 họ), đồng thời vượt trội hơn hẳn so với Đồng Rui – Quảng Ninh (30 loài) và Hưng Hòa – Nghệ An (21 loài). Các họ chiếm ưu thế tại Long Sơn gồm họ ngao Veneridae (10 loài) và họ sò Arcidae (8 loài).

Thứ tư, về hoạt động kinh tế gắn với sinh thái, toàn xã có 624 hộ nuôi thủy sản trên đất liền và 260 hộ nuôi bè trên mặt nước. Nổi bật nhất là nghề nuôi hàu cửa sông (Crassostrea rivularis) với quy mô 7 cụm bè chuẩn (60 m x 25 m) cho sản lượng 72,8 tấn/năm, bên cạnh sản lượng khai thác tự nhiên đạt 1,6 tấn trùng trục/tháng và 3,1 tấn điệp tròn/tháng. Nghề làm muối đạt sản lượng khoảng 24.000 tấn/năm cùng 2.457 hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về đa dạng sinh học tại Long Sơn bắt nguồn từ vị trí địa lý đắc địa tại cửa ngõ vịnh Ghềnh Rái, nơi hội tụ phù sa của 5 nhánh sông lớn: sông Thị Vải, sông Ngã Bảy, sông Chà Và, sông Mũi Giùi và sông Dinh. Nguồn dinh dưỡng dồi dào từ rừng ngập mặn Cần Giờ liền kề tạo điều kiện lý tưởng cho các loài thủy sinh cư trú và sinh sản.

So sánh với các nghiên cứu sinh thái ven biển miền Bắc và miền Trung, số loài ĐVTM tại Long Sơn cao hơn 23,3% so với vùng rừng ngập mặn Đồng Rui và cao hơn 76,2% so với vùng ngập mặn Hưng Hòa. Điều này chứng minh tiềm năng phát triển phân khúc du lịch ẩm thực và du lịch trải nghiệm sông nước tại Long Sơn có lợi thế cạnh tranh vượt bậc trong vùng Đông Nam Bộ.

Toàn bộ các chuỗi dữ liệu đa dạng sinh học và sản lượng kinh tế nêu trên có thể được chuẩn hóa trực quan qua Biểu đồ cột thể hiện mức độ giàu có về thành phần loài ĐVTM giữa 4 vùng sinh thái, kết hợp Bảng cơ cấu phân loại 119 loài thực vật ngập mặn theo 7 dạng sống. Việc trực quan hóa này khẳng định tính cấp thiết của việc chuyển đổi phương thức khai thác tài nguyên từ đánh bắt tận diệt sang phát triển chuỗi giá trị du lịch học tập, dã ngoại và nghỉ dưỡng sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện quy hoạch phân khu và nâng cấp hạ tầng kết nối: Ủy ban nhân dân thành phố Vũng Tàu cần phê duyệt quy hoạch chi tiết các cụm du lịch sinh thái Long Sơn trước năm 2016. Ban Quản lý dự án tỉnh cần đẩy nhanh tiến độ nâng cấp tuyến đường xuyên đảo Gò Găng – Long Sơn, mở rộng mạng lưới đường ống cấp nước sạch 2.500 m, đảm bảo mục tiêu cấp nước 500.000 m³/ngày đêm cho toàn tỉnh vào năm 2020 nhằm đáp ứng nhu cầu du khách.

  2. Đa dạng hóa và chuẩn hóa sản phẩm du lịch đặc trưng: Các doanh nghiệp lữ hành chủ động liên kết với địa phương để thiết kế các tour du lịch sinh thái khép kín từ năm 2015, bao gồm: tour chèo thuyền khám phá rừng ngập mặn sông Chà Và, tour leo núi Nứa chinh phục đỉnh Bà Trao (183 m) và tour trải nghiệm thu hoạch hàu trên lồng bè. Phấn đấu nâng tỷ lệ khách lưu trú qua đêm tại xã đảo từ mức dưới 5% lên 25% vào năm 2020.

  3. Xây dựng mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng: Ủy ban nhân dân xã Long Sơn chủ trì thành lập Hợp tác xã Du lịch Cộng đồng Long Sơn trong giai đoạn 2015 – 2017. Tổ chức tập huấn kỹ năng nghiệp vụ du lịch và văn hóa ứng xử cho 624 hộ nuôi trồng thủy sản và 260 hộ nhà bè; thiết lập cơ chế trích 10% – 15% lợi nhuận du lịch để tái đầu tư vào quỹ bảo tồn và phúc lợi cộng đồng.

  4. Thiết lập quy chuẩn bảo tồn đa dạng sinh học và kiểm soát ô nhiễm: Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phối hợp với các cơ sở kinh doanh ẩm thực bè nổi ban hành quy chế quản lý chất thải rắn và nước thải sinh hoạt trước năm 2018. Thực hiện kiểm soát nghiêm ngặt 100% phương tiện ca nô, tàu thuyền du lịch, cấm xả dầu máy trực tiếp ra sông Chà Và nhằm bảo vệ sinh cảnh của 37 loài ĐVTM và 119 loài thực vật ngập mặn quý giá.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy để Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Sở Du lịch xây dựng đề án quy hoạch tổng thể du lịch sinh thái, phân bổ ngân sách hạ tầng và ban hành chính sách quản lý nhà bè nuôi trồng thủy hải sản gắn với du lịch.

  2. Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch: Cung cấp căn cứ thực tiễn và bản đồ tài nguyên để thiết kế các chương trình tour trải nghiệm mới lạ (tuyến Thành phố Hồ Chí Minh – Long Sơn – Vũng Tàu), phát triển các khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp và dịch vụ ẩm thực bè nổi đạt chuẩn.

  3. Nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Du lịch, Sinh thái học: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh, phương pháp khảo sát thực địa đa biến và hệ thống danh mục định danh 119 loài thực vật ngập mặn cùng 37 loài ĐVTM để làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.

  4. Cộng đồng cư dân và chủ cơ sở kinh doanh tại xã đảo Long Sơn: Định hướng phương thức chuyển đổi sinh kế bền vững từ nuôi trồng thủy sản đơn thuần sang cung ứng dịch vụ du lịch cộng đồng, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường sống trên đảo.

Câu hỏi thường gặp

Tài nguyên sinh thái tại xã đảo Long Sơn có điểm gì khác biệt so với trung tâm thành phố Vũng Tàu? Xã đảo Long Sơn sở hữu hệ sinh thái rừng ngập mặn nguyên sinh rộng hàng trăm hecta kết hợp địa hình núi Nứa (đỉnh cao 183 m), lưu giữ 119 loài thực vật và 37 loài động vật thân mềm. Vùng nước lợ tại các cửa sông lớn tạo điều kiện phát triển làng nghề nuôi hàu cửa sông đạt sản lượng 72,8 tấn/năm, tạo nên bản sắc du lịch sinh thái sông nước độc nhất vô nhị.

Điều kiện khí hậu tại Long Sơn có đảm bảo hoạt động du lịch diễn ra quanh năm không? Khí hậu Long Sơn mang tính chất nhiệt đới gió mùa biển điều hòa với nhiệt độ bình quân 27°C và 2.850 giờ nắng/năm. Mặc dù mùa mưa chiếm 90% lượng mưa cả năm, khu vực này hầu như không bao giờ có bão lớn, cho phép các hoạt động tham quan di tích, dã ngoại leo núi và thưởng thức ẩm thực nhà bè diễn ra ổn định suốt 12 tháng.

Mức độ đa dạng sinh học của động vật thân mềm hai mảnh vỏ tại Long Sơn được xếp hạng như thế nào? Theo số liệu nghiên cứu đối sánh tại 4 vùng rừng ngập mặn điển hình của Việt Nam, Long Sơn ghi nhận 37 loài ĐVTM thuộc 16 họ, xếp thứ nhì toàn quốc sau Vườn Quốc gia Cà Mau (48 loài). Mức độ đa dạng này vượt xa vùng ngập mặn Đồng Rui – Quảng Ninh (30 loài) và Hưng Hòa – Nghệ An (21 loài).

Luận văn đề xuất những tuyến du lịch liên kết không gian nào để thu hút du khách? Nghiên cứu định hướng phát triển tuyến du lịch trọng điểm Thành phố Hồ Chí Minh/Đồng Nai – Long Sơn – Long Hải – Vũng Tàu. Với cự ly hơn 100 km từ Thành phố Hồ Chí Minh và kết nối thông suốt qua Quốc lộ 51 cùng cầu Bà Nanh, Long Sơn là trạm dừng chân sinh thái lý tưởng cho các tour nghỉ dưỡng cuối tuần.

Làm thế nào để dung hòa giữa phát triển kinh tế nuôi bè hàu và bảo tồn môi trường sinh thái trên đảo? Luận văn đề xuất quy hoạch lại các phân khu lồng bè trên sông Chà Và, bắt buộc 100% bè dịch vụ lắp đặt bể thu gom rác thải sinh hoạt và xử lý nước thải. Đồng thời, chính quyền địa phương cần hướng dẫn 260 hộ bè tham gia tập huấn vệ sinh môi trường và kiểm soát tải lượng du khách không vượt quá sức chứa sinh thái.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện nguồn tài nguyên sinh thái phong phú của xã đảo Long Sơn với diện tích 92 km², 119 loài thực vật ngập mặn và 37 loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ có giá trị sinh học và kinh tế cao.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng khai thác du lịch giai đoạn 2007 – 2013, chỉ rõ sự chuyển mình từ tính chất tự phát sang nhu cầu cấp thiết phải quy hoạch đồng bộ hạ tầng giao thông và dịch vụ.
  • Đề xuất mô hình liên kết bền vững giữa bảo tồn đa dạng sinh học rừng sác, phát triển làng nghề nuôi hàu truyền thống và du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm: tổ chức quản lý, đầu tư hạ tầng, đa dạng hóa sản phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái đến năm 2020.
  • Xác lập định hướng phát triển các tuyến du lịch vệ tinh kết nối Long Sơn với tam giác kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xác lập luận cứ khoa học thực chứng đầu tiên về tài nguyên sinh thái phục vụ phát triển du lịch tại xã đảo Long Sơn. Giai đoạn tiếp theo 2020 – 2025 cần mở rộng nghiên cứu về lượng giá kinh tế tài nguyên môi trường và xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn trên các làng bè thủy sản. Hãy cùng đồng hành khai phóng tiềm năng du lịch xanh Long Sơn một cách bền vững và trách nhiệm ngay hôm nay.