Chương 1. Thực trạng khai thác tài nguyên sinh thái phục vụ hoạt động du lịch ở Long Sơn. Những giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch sinh thái tại xã đảo Long Sơn 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. Tài nguyên du lịch Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lƣợng và thông tin có trên Trái Đất và trong không gian gian vũ trụ mà con ngƣời có thể sử dụng để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.
Tài nguyên đƣợc phân loại thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con ngƣời và xã hội. Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch. Theo điều 4, Luật Du lịch Việt Nam năm 2006: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du kịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.
Tài nguyên du lịch sinh thái “ Tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó. Phạm Trung Lƣơng). Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều đƣợc coi là tài nguyên DLST mà chỉ có các thành phần và cá thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể đƣợc khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung, DLST nói riêng, mới đƣợc xem là tài nguyên du lịch sinh thái. Tài nguyên DLST rất đa dạng và phong phú.
Tài nguyên DLST bao gồm tài nguyên đang khai thác và tài nguyên chƣa đƣợc khai thác. Tuy nhiên, một số tài nguyên DLST chủ yếu thƣờng đƣợc nghiên cứu khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách DLST nhƣ: các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù với nhiều loài sinh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vật đặc hữu quý hiếm (VQG, khu bảo tồn thiên nhiên,…); các hệ sinh thái nông nghiệp (vƣờn cây ăn trái, trang trại, …); … 1. Du lịch sinh thái Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tƣơng đối rộng lớn thuộc các lĩnh vực khác nhau. Chính vì lẽ đó, nó đƣợc hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau với những tên gọi khác nhau nhƣ: du lịch thiên nhiên (Nature Tourism), du lịch môi trƣờng (Environmental Tourism), du lịch xanh (Green Tourism), du lịch nhà tranh (Cottage Tourism), ….
Theo Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế (The International Ecotourism society): “Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương” Ở Viện Nam, DLST là lĩnh vực mới đƣợc nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, song đã thu hút đƣợc sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trƣờng. DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, mặc dù trong hoạt động của loại hình du lịch này bao gồm cả tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa bản địa của cộng đồng địa phƣơng. Các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên nhƣ nghỉ dƣỡng, tham quan, mạo hiểm,…chủ yếu mới đƣa con ngƣời về với thiên nhên, còn việc giáo dục, nâng cao nhận thức cho khách du lịch về thiên nhiên và môi trƣờng, văn hóa cộng đồng địa phƣơng là rất ít, hầu nhƣ không có. Tuy nhiên nếu nhƣ trong hoạt động của những loại hình du lịch này có gắn với việc nâng cao nhận thức để du khách có trách nhiệm với việc bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa cộng đồng, tạo việc làm và lợi ích cho ngƣời dân địa phƣơng thì bản thân chúng đã chuyển hóa thành một dạng của DLST.
Lê Huy Bá cũng đƣa ra khái niệm về du lịch sinh thái và đây có thể đƣợc xem nhƣ là một khái niệm đầy đủ ý nghĩa để phục vụ cho nghiên cứu đề tài này “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”. Các loại tài nguyên sinh thái phục vụ phát triển du lịch 1. Địa hình Địa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài (nội sinh, ngoại sinh).
Trong chừng mực nhất định, mọi hoạt động sống của con ngƣời trên một lãnh thổ đều phụ thuộc vào địa hình. Tất nhiên tùy thuộc vào mục đích hoạt động kinh tế mà sự phụ thuộc đó nhiều hay ít hay phụ thuộc vào khía cạnh này hay khác của địa hình. Đối với hoạt động du lịch, điều quan trọng nhất là đặc điểm hình thái địa hình, nghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng đặc biệt của địa hình có sức hấp dẫn khai thác cho du lịch. Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi đồi và đồng bằng, chúng đƣợc phân biệt bởi độ chênh của địa hình.
Khách du lịch thƣơng ƣa thích những nơi có phong cảnh đẹp và đa dạng, những vùng có nhiều đồi núi; và thƣờng tránh những nơi bằng phẳng mà họ cho là tẻ nhạt, không thích hợp với du lịch. Địa hình đồng bằng tƣơng đối đơn điệu về ngoại hình, một cách trƣợc tiếp, ít gây những cảm hứng nhất định cho tham quan du lịch. Song do đồng bằng là nơi thuận lợi cho hoạt động kinh tế, cho canh tác nông nghiệp nên từ lâu ở đây là nơi quần cƣ đông đúc. Thông qua các hoạt động nông nghiệp, văn hóa của con ngƣời địa hình đồng bằng có ảnh hƣởng gián tiếp đến khách du lịch.
Địa hình vùng đồi thƣờng tạo ra một không gian thoáng đãng và bao la. Do sự phân cắt của địa hình nên có tác động mạnh đến tâm lý du lịch dã ngoại, rất thích hợp với các loại hình cắm trại và tham quan. Vùng đồi là nơi tập trung dân cƣ tƣơng đối đông đúc, lại là nơi có những di tích khảo cổ và tài nguyên văn hóa, lịch sử độc đáo, tạo khả năng phát triển loại hình du lịch, tham quan theo chuyên đề. Trong các dạng địa hình thì miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch, đặc biệt là khu vực, thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông, các nhà an dƣỡng, các trạm nghĩ, các cơ sở du lịch, các khu vực tiện cho chuyển tiếp lộ trình, các đỉnh núi cao có thể nhìn toàn cảnh và thích hợp với môn thể thao leo núi… 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong tài nguyên du lịch miền núi, cùng với địa hình, khí hậu và thực động vật tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có khả năng tổ chức các loại hình du lịch ngắn ngày cũng nhƣ dài ngày.
Ngoài các dạng địa hình chính với các ý nghĩa phục vụ du lịch khác nhau, cần chú ý đến các kiểu địa hình đặc biệt có giá trị rất lớn cho tổ chức du lịch- kiểu địa hình Karst (đá vôi) và kiểu địa hình bờ bãi biển. - Kiểu địa hình Karst là kiểu địa hình đƣợc thành tạo do sự lƣu thông của nƣớc trong các đá dễ hòa tan (đá vôi, đôlômit, đá phấn, thạch cao, muối mỏ…), ở Việt Nam chủ yếu là đá vôi. Thuật ngữ “Karst” bắt nguồn từ tên một miền thuộc Nam Tƣ, nơi mà địa hình này nghiên cứu lần đầu. Các kiểu Kast có thể đƣợc tạo thành từ sự hòa tan của nƣớc trên mặt cũng nhƣ của nƣớc ngầm.
Một trong các kiểu Karst đƣợc quan tâm nhất đối với du lịch là hang động Karst. Những cảnh quan thiên nhiên và văn hóa của hang động Karst rất hấp dẫn khách du lịch. Đây chính là nguồn tài nguyên du lịch, một loại hàng hóa đặc biệt có thể sinh lợi dễ dàng. Hiện nay trên thế giới có khoảng 650 hang động đã đƣợc sử dụng cho du lịch, hang năm thu hút khoảng 15 triệu khách tới thăm.
Trên thế giới có 25 hang động Karst dài nhất, điển hình nhƣ hang Flint Mammauth Cave System dài 530 km ở Hoa Kì, hang Optimisticeskaya dài 153 km ở Ucraina, hang Holloch dài 133,5 km ở Thụy Sĩ, hang Rescau Jencan Bernard sâu 1535 m ở Pháp, hang Sistema de Trave sâu 1380 m ở Tây Ban Nha. Hang động Karst ở Việt nam không dài, không sâu, nhƣng rất đẹp. Động Phong Nha (ở Bố Trạch, Quảng Bình) dài gần 8 km, có cửa vào rộng 25 m và cao 10 m, đƣợc coi là hang nƣớc đẹp nhất thế giới, “kỳ quan nhất thế giới” hay “Phong Nha đệ nhất động”. Đây sẽ là điểm du lịch đông khách nhất, đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn nhất của Quảng Bình trong những năm tới.
Một số hang động khác của Việt Nam cũng có điểm du lịch hấp dẫn nhƣ Bích Động (Ninh Bình), động Hƣơng Tích (Hà Tây), Hang Bồ Nâu, Luồng (Quảng Ninh)… Ngoài hang động Karst, các kiểu địa hình Karst khác cũng có giá trị lớn đến du lịch, chẳng hạn kiểu Karst ngập nƣớc mà tiêu biểu là Vịnh Hạ Long, một trong những kì quan thế giới, với khả năng du ngoạn bằng tàu thuỷ, thuyền bè. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kiểu Karst đồng bằng ở vùng Ninh Bình đƣợc mệnh danh là một Hạ Long khô tuyệt vời thu hút sự chú ý của khách du lịch trong nƣớc và quốc tế - Các kiểu địa hình ven bờ các kho chứa nƣớc lớn (đại dƣơng, biển, sông hồ…) có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch. Nói chung, địa hình ven bờ có thể tận dụng khai thác du lịch với mục đích khác nhau: từ tham quan du lịch theo chủ đề khoa học, nghĩ ngơi an dƣỡng, tắm biển, thể thao nƣớc. Địa hình đƣợc đánh giá chủ yếu trên quan điểm có xây đựng đƣợc những bãi tắm và có cát không? Đặc điểm lí hóa của chúng nhƣ thế nào?