Tổng quan luận án

Tài nguyên nước đóng vai trò thiết yếu đối với hệ sinh thái và sự phát triển kinh tế - xã hội, tuy nhiên nguồn tài nguyên này đang suy giảm cả về số lượng lẫn chất lượng dưới tác động kép của biến đổi khí hậu và áp lực khai thác. Theo các báo cáo của Tổ chức Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), nhiệt độ trung bình bề mặt Trái Đất đã tăng gần 1°C trong giai đoạn 1880–2012; riêng giai đoạn 2003–2012 cao hơn 0,78°C so với thời kỳ 1850–1900. Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, trong 50–60 năm qua, diễn biến khí hậu mang tính cực đoan rõ rệt: nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,5–0,8°C (xu thế tăng 0,03–0,05°C/năm), lượng mưa gia tăng mạnh trong mùa mưa nhưng sụt giảm sâu trong mùa kiệt, làm gia tăng cường độ lũ lụt và hạn hán. Theo Chiến lược Biến đổi khí hậu Quốc gia của Lào (công bố tháng 3/2010), đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình tại quốc gia này có thể tăng từ 2,5°C đến 4,2°C (hoặc lên tới 3,0°C theo các dự báo khác).

Thực tế nghiên cứu tại Lào cho thấy các công trình về tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước còn rất hạn chế. Tác giả luận án chỉ ra ba khoảng trống nghiên cứu chính chưa được giải quyết:

  1. Chưa nghiên cứu dự báo diễn biến điều kiện khí tượng thủy văn, đặc biệt là diễn biến dòng chảy các lưu vực sông ở Lào, trong đó có lưu vực sông Sedon;
  2. Chưa nghiên cứu chi tiết tác động cụ thể của biến đổi khí hậu đến sự thay đổi nhu cầu nước của ngành nông nghiệp và hiện tượng hạn hán do lượng mưa giảm vào mùa kiệt, tăng vào mùa mưa;
  3. Chưa có nghiên cứu, tính toán, đánh giá chi tiết về tình trạng hạn hán và đề xuất hệ thống giải pháp ứng phó với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước của Lào nói chung và lưu vực sông Sedon nói riêng.

Để giải quyết các khoảng trống trên, luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích đánh giá được tiềm năng tài nguyên nước và nhu cầu sử dụng nước tổng hợp lưu vực sông Sedon hiện tại và tương lai trong bối cảnh biến đổi khí hậu;
  2. Đề xuất được các giải pháp công trình và phi công trình nhằm ứng phó với hạn hán tại lưu vực sông Sedon, đáp ứng yêu cầu sử dụng nước tổng hợp trong bối cảnh biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống sông ngòi, dòng chảy và các đối tượng dùng nước trên lưu vực sông Sedon.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Toàn bộ lưu vực sông Sedon với diện tích tự nhiên 703.200 ha (khoảng 7.220 km²), nằm giữa 15°–16° vĩ độ Bắc và 105°35'–106°40' kinh độ Đông. Lưu vực bao gồm 12 huyện thuộc hai tỉnh Salavan (8 huyện) và Champasak (4 huyện), cùng một phần diện tích nhỏ thuộc các tỉnh Savannakhet và Sekong.
  • Thời gian: Chuỗi số liệu khí tượng quan trắc 26 năm (1990–2015); số liệu dân số và hiện trạng công trình năm 2017; các kịch bản đánh giá tương lai tập trung vào hai mốc thời gian: giai đoạn thập kỷ 2030 (2030s) và giai đoạn thập kỷ 2050 (2050s).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Cơ sở lý luận về quản lý và sử dụng tổng hợp tài nguyên nước (SDTHTNN/IWRM) được khởi xướng tại các hội nghị quốc tế ở Paris, Đan Mạch và được khẳng định chính thức tại Tuyên bố Dublin năm 1992 với hai nguyên tắc cốt lõi: "Nước phải được coi là một thứ hàng hoá" và "Tài nguyên nước cần được quản lý ở cấp thích hợp nhất". Các mô hình quản lý tài nguyên nước theo lưu vực sông đã được thiết lập và vận hành tại nhiều quốc gia như Australia, Mỹ, Mexico, Đức, Pháp, Đan Mạch, Indonesia, Malaysia, Venezuela, Trung Quốc và Sri Lanka.

Về phương diện đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước trên thế giới, IPCC (2007, 2014) và Van Vuuren và nnk (2011) đã chuẩn hóa 4 đường nồng độ khí nhà kính đại diện (RCP2.6, RCP4.5, RCP6.0, RCP8.5). Hàng loạt công trình quốc tế đã phân tích mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu, hoàn lưu nước và dòng chảy:

  • Xu và nnk (2004) tại lưu vực sông Tarim (Trung Quốc) chỉ ra xu thế gia tăng lượng mưa mùa mưa và suy giảm mùa khô;
  • Kundzewicz (2008) phân tích chu trình nước toàn cầu dưới áp lực bốc hơi và mưa gia tăng;
  • Mizyed (2009) mô phỏng khí hậu toàn cầu để đánh giá nguồn nước và nhu cầu nước nông nghiệp tại Bờ Tây;
  • Gardner (2009) dự báo biến động dòng chảy trung bình nhiều năm theo kịch bản A1B;
  • Shilong Piao và nnk (2010) đánh giá tài nguyên nước Trung Quốc theo các kịch bản B1, B2, A2, ghi nhận dòng chảy sông Trường Giang có xu thế tăng trong khi sông Hoàng Hà có xu thế giảm;
  • Yang Nan và nnk (2011) tổng kết khung nghiên cứu "what-if-then" gồm 4 bước chính: xác định kịch bản khí hậu, thiết lập và kiểm định mô hình thủy văn, tính toán dữ liệu đầu vào và mô phỏng dòng chảy, đánh giá tác động;
  • Nigel W. Arnell và nnk (2016) sử dụng mô hình thủy văn toàn cầu với 21 mô hình CMIP3 (A1B), nhận thấy 47% diện tích lục địa tăng dòng chảy và 36% suy giảm;
  • Zdzislaw Kaczmarek và nnk (1996) dùng mô hình GFDL và GISS đánh giá hệ thống nước Ba Lan;
  • Doummar và nnk (2009) dùng mô hình WRM tối ưu hóa sử dụng nước hạ lưu sông Litani (Lebanon);
  • Qiang Liu và nnk (2015) trên lưu vực sông Hoàng Hà cho thấy mưa tăng 10% làm dòng chảy tăng ~22%, bốc hơi tăng 10% làm dòng chảy giảm ~13%;
  • Zareian và nnk (2017) tại sông Zayandeh-Rud (Iran); Probst, F và nnk (2007) ứng dụng SWAT tại Tây Phi; O và nnk (2012) tại lưu vực sông Ogun (Nigeria).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về cân bằng nước và biến đổi khí hậu đã được thực hiện qua các đề tài KC12-02 (Bắc Trung Bộ, 1995), quy hoạch sông Cả (2002–2004), đề tài KC-08-04 (sông Đà); nghiên cứu hệ hỗ trợ ra quyết định (DSS) và GIS của Loi N.K (2005, 2010) trên sông Đồng Nai, Nguyễn Hải Thanh (2008), Lê Cảnh Định và nnk (2011); Ngô Lê An và nnk (2016) kết hợp HadGEM3-RA, SWAT và WEAP trên lưu vực Sesan và Srepok; Ngô Chí Tuấn và nnk (2010) dùng MIKE-BASIN trên sông Cầu; Nguyễn Tuấn Anh và Lê Văn Chín (2012) dùng CROPWAT cho vùng Trung Hà – Suối Hai; Lê Văn Chín và Nguyễn Thị Hạnh (2015) tại hồ Yên Mỹ; Lê Văn Chín (2016) tại sông Ngàn Phố; Nguyễn Ngọc Anh và Đỗ Đức Dũng (2016) dùng MIKE-NAM và MIKE-BASIN cho sông Đồng Nai; Hoàng Thanh Sơn và nnk (2013) tại sông Cái Phan Rang; Nguyễn Thanh Hiền và Nguyễn Văn Tỉnh (2017) dùng WEAP cho lưu vực sông Hồng – Thái Bình.

Tại Lào, các nghiên cứu của Ủy ban sông Mekong (MRC, 2009) và Bộ Nông Lâm Thủy sản Lào (2010) mới đánh giá sơ bộ ở mức khái quát; Vilaysane Bounhieng đã dùng SWAT mô phỏng dòng chảy lưu vực sông Sedon dựa trên hệ số thay đổi từ 3 mô hình GFDL, GISS, IPSL của MRC.

Vị trí của luận án: Kế thừa quy trình 4 bước của Yang Nan và nnk (2011), luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên tích hợp chuỗi công cụ gồm 4 mô hình khí hậu vùng (CCLM5-0-2 EC-EARTH, CCLM5-0-2 MPI-ESM-LR, REMO2009 MPI-ESM-LR, HadGEM3-RA), mô hình thủy văn SWAT phân chia 20 tiểu lưu vực và mô hình cân bằng nước WEAP để định lượng chi tiết cung - cầu nước và đề xuất giải pháp ứng phó hạn hán cho toàn lưu vực sông Sedon.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên khung lý thuyết quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực, kết hợp các phương pháp toán học và mô hình hóa thủy văn, thủy lực và cân bằng nước:

  • Khung phân tích tác động khí hậu: Tuân thủ quy trình "what-if-then" với 4 bước liên hoàn nhằm chuyển đổi các kịch bản phát thải khí nhà kính toàn cầu thành dữ liệu thủy văn và cân bằng nước cục bộ.
  • Mô hình khí hậu vùng (RCM): Sử dụng 4 mô hình khí hậu vùng chi tiết hóa động lực gồm CCLM5-0-2 (EC-EARTH), CCLM5-0-2 (MPI-ESM-LR), REMO2009 (MPI-ESM-LR) và HadGEM3-RA (HadGEM2-AO) ứng với 2 kịch bản phát thải nồng độ đại diện RCP4.5 và RCP8.5.
  • Mô hình mô phỏng dòng chảy SWAT (Soil and Water Assessment Tool): Xây dựng mạng lưới dòng chảy dựa trên mô hình số độ cao (DEM), phân chia lưu vực sông Sedon thành 20 tiểu lưu vực. Bản đồ loại đất được tích hợp từ tài liệu của NAFRI (2002) với các nhóm đất Cambisols, Luvisols (nhóm đất thủy văn B và C). Mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định tại 2 trạm thủy văn Kongsedone và Sounvannakhily.
  • Tính toán nhu cầu nước: Ứng dụng mô hình CROPWAT để tính toán bốc thoát hơi tiềm năng và nhu cầu tưới cho cây trồng theo hệ số Kc; áp dụng các định mức và tiêu chuẩn dùng nước đối với 6 đối tượng:
    1. Trồng trọt (lúa mùa, lúa khô, hoa màu);
    2. Chăn nuôi (phân chia chăn nuôi tập trung và chăn nuôi phân tán);
    3. Sinh hoạt (đô thị và nông thôn);
    4. Công nghiệp;
    5. Thủy sản;
    6. Du lịch.
  • Mô hình cân bằng nước WEAP (Water Evaluation and Planning System): Thiết lập sơ đồ cân bằng nước cho 20 tiểu lưu vực cấp nước, tích hợp các thông số hồ chứa hiện trạng và quy hoạch, tính toán phân bổ nguồn nước theo từng tháng cho các ngành dùng nước.
Tên mô hình / Công cụ Phiên bản / Thuộc tính Mục đích sử dụng trong luận án
CCLM5-0-2 (EC-EARTH) Mô hình khí hậu vùng (RCM) Chi tiết hóa kịch bản mưa và nhiệt độ (RCP4.5, RCP8.5)
CCLM5-0-2 (MPI-ESM-LR) Mô hình khí hậu vùng (RCM) Chi tiết hóa kịch bản mưa và nhiệt độ (RCP4.5, RCP8.5)
REMO2009 (MPI-ESM-LR) Mô hình khí hậu vùng (RCM) Chi tiết hóa kịch bản mưa và nhiệt độ (RCP4.5, RCP8.5)
HadGEM3-RA Mô hình khí hậu vùng (RCM) Chi tiết hóa kịch bản mưa và nhiệt độ (RCP4.5, RCP8.5)
SWAT Soil and Water Assessment Tool Mô phỏng quá trình mưa - dòng chảy trên 20 tiểu lưu vực
CROPWAT Mô hình tính nhu cầu nước cây trồng Tính toán bốc thoát hơi và nhu cầu nước tưới nông nghiệp
WEAP Water Evaluation and Planning System Mô phỏng cân bằng nước, điều tiết hồ chứa và lượng thiếu hụt

Nguồn dữ liệu thực chứng gồm:

  • Khí tượng: Chuỗi số liệu quan trắc 26 năm (1990–2015) tại 9 trạm: KongSedon, Saravane, Selabam, Pakse, LaoNgam, Nikom34, Batieng, Paksong, Sekong.
  • Thủy văn: Dữ liệu quan trắc dòng chảy tại 2 trạm KongSedon và Sounvannakhily.
  • Không gian và thổ nhưỡng: Bản đồ số độ cao (DEM); bản đồ sử dụng đất và bản đồ loại đất do Viện Nghiên cứu Nông Lâm nghiệp Quốc gia Lào (NAFRI) khảo sát năm 2002.
  • Kinh tế - xã hội: Số liệu thống kê dân số năm 2017 (700.622 người) và hiện trạng các hệ thống công trình thủy lợi từ Cục Thủy lợi Lào và Sở Nông Lâm nghiệp các tỉnh Saravan, Champasak.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về sử dụng tổng hợp tài nguyên nước, các công trình nghiên cứu liên quan trên thế giới, tại Việt Nam và Lào, đồng thời mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và khí tượng thủy văn của lưu vực sông Sedon.

Sông Sedon có chiều dài 254,5 km, bắt nguồn từ cao nguyên Bolaven (gần huyện Thateng, độ cao ~800 m), chảy qua Saravan (cao độ 168 m), KhongSedon (122 m) và Nanay (117 m, diện tích khống chế 6.170 km², chiếm 77% diện tích lưu vực) trước khi đổ ra sông Mekong. Các phụ lưu chính gồm HouayNamsai, Xeset, HouayKapeu, HouayPalai và HouayChampi. Tổng diện tích tự nhiên của lưu vực là 703.200 ha.

STT Ký hiệu Mục đích sử dụng đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
1 AGRL Đất nông nghiệp 199.591 28,38
2 CMCL Diện tích thực vật ở thể khảm >30% 2.891 0,41
3 CMCS Diện tích thực vật ở thể khảm <30% 57.745 8,21
4 DCMS Thể khảm lá rụng 72.002 10,24
5 DECD Rừng rụng lá 45.938 6,53
6 EHCD Rừng thường xanh mật độ che phủ cao 11.559 1,64
7 EMLD Rừng thường xanh mật độ che phủ trung bình & thấp 39.743 5,65
8 EVMS Rừng thường xanh thể khảm 5.271 0,75
9 GRAS Đất đồng cỏ 11.601 1,65
10 MEDH Hỗn hợp rừng thường xanh và rừng rụng lá, che phủ cao 5.946 0,85
11 MEDM Hỗn hợp rừng thường xanh và rừng rụng lá, che phủ TB & thấp 105.269 14,97
12 MXMS Rừng rụng lá hỗn hợp 81.345 11,57
13 REGR Rừng tái sinh 1.615 0,23
14 URBN Khu đô thị và xây dựng 474 0,07
15 WSDR Cây gỗ và cây bụi khô 11.662 1,66
16 WSEV Cây gỗ và cây bụi, rừng thường xanh 50.548 7,19
Tổng 703.200 100,00

Rừng che phủ chiếm hơn 45,77% diện tích lưu vực. Dân số toàn lưu vực năm 2017 là 700.622 người, trong đó khu vực nông thôn chiếm 662.213 người và thành thị chiếm 38.409 người.

Tỉnh / Huyện Thành thị (người) Nông thôn (người) Tổng cộng (người)
I. Tỉnh Salavan 23.721 387.993 411.714
Huyện Salavan 6.264 98.011 104.275
Huyện Vapi 1.465 38.514 39.979
Huyện Khongsedone 4.630 59.761 64.391
Huyện Nakhonpheng 2.891 47.596 50.487
Huyện Laongam 4.863 68.262 73.125
Huyện Toumlan 1.244 28.664 29.908
Huyện Ta Oi 1.675 30.487 32.162
Huyện Samuoi 689 16.698 17.387
II. Tỉnh Champasak 14.688 274.220 288.908
Huyện Pakse 5.872 73.041 78.913
Huyện Sanasomboon 2.680 66.508 69.188
Huyện Bachiangchaleunsouk 2.872 55.679 58.551
Huyện Paksong 3.264 78.992 82.256
Tổng toàn lưu vực 38.409 662.213 700.622

Đặc trưng khí hậu và thủy văn:

  • Nhiệt độ trung bình nhiều năm dao động từ 16°C đến 30°C; ngày nắng nóng cực đại đạt 35–36°C; ngày lạnh nhất nhiệt độ xuống 6,6–8,8°C (tháng I và II). Nhiệt độ cực tiểu trung bình tháng thấp nhất đo được tại trạm Nikom34 là 6,6°C.
  • Độ ẩm trung bình nhiều năm là 76%, mùa mưa đạt 88,8%, mùa khô giảm còn khoảng 63%.
  • Tốc độ gió trung bình tháng từ 1,69 m/s đến 3,01 m/s (gió thịnh hành hướng Đông và Đông Bắc từ tháng IX đến tháng IV; hướng Nam và Đông Nam vào các tháng mùa hè).
  • Bốc hơi: Lớn nhất vào tháng II và III (đạt khoảng 5 mm/ngày), giảm xuống 3 mm/ngày vào tháng V, VI và chỉ còn 1,5 mm/ngày vào các tháng VII, VIII, IX.
  • Số giờ nắng trung bình nhiều năm đạt 17,3 giờ/ngày. Tháng III và IV đạt cao nhất (5,4–6,0 giờ/ngày); tháng VII và VIII thấp nhất (4,1–4,9 giờ/ngày).
  • Lượng mưa: Phân hóa mạnh theo không gian và thời gian. Lượng mưa trung bình năm thấp nhất tại trạm Sekong (1.578,2 mm) và cao nhất tại trạm Paksong (3.511,4 mm). Áp dụng chỉ tiêu vượt tổn thất thấm 100 mm (với tần suất P ≥ 70%), mùa mưa bắt đầu từ tháng V và kết thúc vào tháng IX (chiếm 75–89% tổng lượng mưa năm); mùa khô kéo dài từ tháng X đến tháng IV năm sau (chiếm 19–26% lượng mưa năm). Các trận mưa lớn cực đoan ngày ghi nhận đạt 374,0 mm tại KongSedon (25/VI/1990) và 299,0 mm tại Saravan (18/IX/1996). Tháng mưa lớn nhất lịch sử đạt 1.489,0 mm tại Paksong (tháng VII/1999).
TT Trạm quan trắc Lượng mưa năm TB (mm) Lượng mưa mùa mưa (mm) Tỷ lệ mùa mưa (%) Lượng mưa mùa khô (mm) Tỷ lệ mùa khô (%) Mưa ngày Max (mm)
1 KongSedon 1.977,3 1.663,0 84,1 314,3 15,9 374,0
2 Saravane 2.080,0 1.785,8 85,9 294,2 14,2 299,0
3 Selabam 1.877,8 1.689,8 90,0 188,1 10,0 226,0
4 Pakse 1.972,0 1.729,3 87,7 242,7 12,3 203,3
5 LaoNgam 1.747,2 1.425,3 81,6 322,0 18,4 239,0
6 Nikom 3-4 2.511,6 1.884,5 75,0 627,0 25,0 218,0
7 Batieng 2.194,9 1.885,1 85,9 309,9 14,1 255,0
8 Paksong 3.511,4 2.808,2 80,0 703,2 20,0 263,0
9 Sekong 1.578,2 1.263,4 80,1 314,8 20,0 118,0

Hiện trạng khai thác: Hệ thống công trình cấp nước nông nghiệp toàn vùng còn phân tán, thiếu công trình điều tiết lớn nên tình trạng thiếu nước trong mùa khô thường xuyên diễn ra tại các huyện thuộc tỉnh Salavan và Champasak.

Chương 2. Xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 tập trung thiết lập cơ sở dữ liệu số, xây dựng mô hình mô phỏng dòng chảy và tính toán cân bằng nước cho lưu vực sông Sedon ở giai đoạn hiện tại:

  • Xây dựng mô hình SWAT: Lưu vực được số hóa và chia thành 20 tiểu lưu vực dựa trên mạng lưới sông suối và bản đồ DEM. Các thông số thổ nhưỡng và thảm phủ được gán từ bản đồ đất và sử dụng đất của NAFRI.
  • Hiệu chỉnh và kiểm định SWAT: Sử dụng chuỗi số liệu dòng chảy thực đo tại trạm Kongsedone và trạm Sounvannakhily. Kết quả so sánh đường quá trình dòng chảy mô phỏng và thực tế cho thấy mô hình đạt độ tin cậy cần thiết để tính toán dòng chảy đến.
  • Tính toán nhu cầu nước hiện tại: Áp dụng CROPWAT tính toán nhu cầu nước cho trồng trọt (lúa vụ mùa, lúa vụ khô, hoa màu); kết hợp định mức cấp nước sinh hoạt, chăn nuôi tập trung và phân tán, công nghiệp, thủy sản và du lịch trên 20 tiểu lưu vực. Nông nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng nhu cầu dùng nước.
  • Mô phỏng cân bằng nước hiện trạng bằng WEAP: Kết nối 20 tiểu lưu vực với hệ thống các công trình khai thác nước (hồ chứa, đập dâng, trạm bơm). Kết quả chỉ ra lượng thiếu hụt nước trung bình xuất hiện cục bộ vào các tháng cuối mùa khô (tháng II, III, IV) do dòng chảy tự nhiên kiệt quệ và khả năng trữ nước của các công trình hiện hữu bị giới hạn.

Chương 3. Ảnh hưởng của BĐKH đến sử dụng nước lưu vực sông Sedon và giải pháp ứng phó

Chương 3 trình bày các kết quả dự báo khí hậu, biến động dòng chảy, cân bằng nước trong tương lai và hệ thống giải pháp thích ứng:

  • Dự tính mưa và nhiệt độ tương lai: Tính toán từ 4 mô hình RCM (CCLM5-0-2 EC-EARTH, CCLM5-0-2 MPI-ESM-LR, REMO2009 MPI-ESM-LR, HadGEM3-RA) theo 2 kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 cho giai đoạn 2030s và 2050s so với giai đoạn nền. Kết quả thể hiện xu thế gia tăng rõ rệt của nhiệt độ tối cao và tối thấp trên toàn lưu vực. Lượng mưa năm và lượng mưa mùa mưa có xu thế tăng, trong khi lượng mưa mùa khô biến động phức tạp và suy giảm tại nhiều trạm.
  • Tác động đến dòng chảy: Dòng chảy mô phỏng tại trạm Kongsedone và trạm Sounvannakhily ở giai đoạn 2030s và 2050s có xu hướng gia tăng lưu lượng trong mùa lũ nhưng giảm sâu trong các tháng mùa kiệt, làm tăng nguy cơ lũ lụt trong mùa mưa và trầm trọng thêm tình trạng cạn kiệt nguồn nước mùa khô.
  • Dự báo nhu cầu nước: Nhu cầu nước tưới nông nghiệp và tổng nhu cầu nước của các ngành gia tăng đáng kể ở cả hai giai đoạn 2030s và 2050s do nhiệt độ tăng làm tăng bốc hơi kết hợp với sự mở rộng diện tích sản xuất và gia tăng dân số.
  • Cân bằng nước và lượng nước thiếu hụt tương lai: Kết quả mô phỏng bằng mô hình WEAP cho thấy mức độ thiếu hụt nước gia tăng mạnh cả về không gian lẫn thời gian trong các tháng mùa khô giai đoạn 2030s và 2050s theo tất cả các kịch bản RCM.
  • Đề xuất giải pháp ứng phó:
    1. Giải pháp công trình: Đề xuất phương án bố trí xây dựng các công trình trữ nước và cấp nước đầu mối mới (hồ chứa, trạm bơm, đập dâng) trên các tiểu lưu vực dự kiến cho giai đoạn 2030s và tiếp tục bổ sung cho giai đoạn 2050s nhằm điều tiết dòng chảy mùa mưa để cấp nước cho mùa kiệt.
    2. Giải pháp phi công trình: Đề xuất phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ lúa nước sang cây trồng cạn có mức sử dụng nước thấp hơn tại các vùng thiếu nước; áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước; hoàn thiện cơ chế phối hợp quản lý và chia sẻ nguồn nước liên ngành giữa các địa phương trên lưu vực.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt khoa học và lý luận:

  • Hệ thống hóa phương pháp luận khoa học trong việc tích hợp chuỗi công cụ mô hình khí hậu vùng (RCM) – mô hình thủy văn phân bố (SWAT) – mô hình nhu cầu nước cây trồng (CROPWAT) – mô hình cân bằng nước hệ thống (WEAP) phục vụ bài toán quản lý và sử dụng tổng hợp tài nguyên nước tại lưu vực sông thuộc CHDCND Lào;
  • Thiết lập trình tự tính toán, mô phỏng và các bước đề xuất giải pháp công trình, phi công trình dựa trên bài toán cân bằng nước, tạo tiền đề phương pháp luận để áp dụng cho các lưu vực sông khác tại Lào.

Về mặt thực tiễn:

  • Xây dựng bộ kịch bản biến đổi khí hậu chi tiết hóa cho lưu vực sông Sedon ở hai giai đoạn 2030s và 2050s theo 2 kịch bản phát thải RCP4.5 và RCP8.5 từ 4 mô hình RCM, định lượng được mức độ thay đổi nhiệt độ và lượng mưa;
  • Xác định và lượng hóa cụ thể mức độ thừa, thiếu nước theo từng tháng tại 20 tiểu lưu vực cho giai đoạn hiện tại cũng như tương lai (2030s, 2050s), chỉ rõ các vùng có nguy cơ cao về thiếu hụt nước phục vụ dân sinh và phát triển kinh tế;
  • Đề xuất phương án quy hoạch các công trình cấp nước đầu mối (bố trí công trình dự kiến giai đoạn 2030s và 2050s) kết hợp giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng và áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, cung cấp luận cứ khoa học để chính quyền CHDCND Lào bố trí ngân sách đầu tư xây dựng công trình và lập quy hoạch thủy lợi cho lưu vực sông Sedon.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ một số mặt hạn chế xuất phát từ điều kiện thực tế của vùng nghiên cứu:

  • Mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn tại Lào và trên lưu vực sông Sedon còn thưa thớt; chuỗi số liệu quan trắc lịch sử trong giai đoạn 1970 đến nay còn hạn chế và không đầy đủ, phải sử dụng dữ liệu khí tượng dạng lưới toàn cầu để bù đắp các đoạn thiếu hụt;
  • Số lượng trạm thủy văn quan trắc dòng chảy phục vụ hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy văn SWAT còn ít (chỉ có 2 trạm là Kongsedone và Sounvannakhily);
  • Tồn tại độ bất định vốn có từ các mô hình khí hậu toàn cầu và mô hình khí hậu vùng khi mô phỏng các biến đổi khí hậu tương lai;
  • Các dự báo về nhu cầu nước dài hạn chịu sự chi phối của các giả định quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Cần tiếp tục thu thập, đo đạc bổ sung số liệu khí tượng thủy văn chi tiết trên lưu vực;
  • Đánh giá sâu hơn về mức độ bất định của chuỗi mô hình khí hậu;
  • Mở rộng nghiên cứu tương tác giữa nguồn nước mặt và nước dưới đất, cũng như xây dựng quy chế vận hành tối ưu liên hồ chứa khi các công trình mới được đưa vào hoạt động.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu kỹ thuật có giá trị ứng dụng thực tiễn và tham khảo chuyên môn đối với các cơ quan quản lý và nghiên cứu:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước tại Lào: Cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho Bộ Tài nguyên và Môi trường Lào, Cục Thủy lợi Lào, Sở Nông Lâm nghiệp các tỉnh Saravan, Champasak và Sekong trong việc phân bổ vốn đầu tư công trình thủy lợi, lập quy hoạch tài nguyên nước và xây dựng kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu.
  • Đối với các viện nghiên cứu và trường đại học: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kỹ thuật tài nguyên nước, Thủy văn học, Quản lý tài nguyên nước và Môi trường. Quy trình tích hợp SWAT – CROPWAT – WEAP là một nghiên cứu trường hợp điển hình cho các lưu vực sông khu vực Đông Nam Á.
  • Đối với Ủy hội sông Mekong (MRC): Cung cấp dữ liệu chi tiết ở cấp tiểu lưu vực phục vụ cho các chương trình phát triển lưu vực (BDP) và chương trình sử dụng nước (WUP).

Câu hỏi thường gặp

1. Lưu vực sông Sedon có vị trí địa lý, phạm vi hành chính và đặc điểm địa hình như thế nào?
Lưu vực sông Sedon có tổng diện tích tự nhiên 703.200 ha (khoảng 7.220 km²), nằm ở phía Nam nước Lào (tọa độ 15°–16°N, 105°35'–106°40'E). Sông dài 254,5 km, bắt nguồn từ cao nguyên Bolaven gần huyện Thateng (cao độ ~800 m) chảy xuống Saravan (168 m), KongSedon (122 m) và Nanay (117 m). Lưu vực trải dài trên 12 huyện thuộc hai tỉnh Salavan (8 huyện: Salavan, Vapi, Khongsedone, Nakhonpheng, Laongam, Toumlan, Ta Oi, Samuoi) và Champasak (4 huyện: Pakse, Sanasomboon, Bachiangchaleunsouk, Paksong), cùng một phần nhỏ thuộc Sekong và Savannakhet. Dân số toàn lưu vực năm 2017 là 700.622 người (nông thôn 662.213 người, thành thị 38.409 người).

2. Chế độ mưa trên lưu vực sông Sedon phân hóa theo mùa ra sao và lượng mưa cực đoan nhất từng ghi nhận là bao nhiêu?
Lượng mưa trung bình năm biến thiên từ 1.578,2 mm (Sekong) đến 3.511,4 mm (Paksong). Căn cứ theo chỉ tiêu vượt tổn thất thấm 100 mm (P ≥ 70%), mùa mưa diễn ra từ tháng V đến tháng IX, chiếm 75–89% tổng lượng mưa năm (mưa tập trung nhiều nhất vào tháng VII và VIII, chiếm 53–60% tổng lượng mưa năm); mùa khô kéo dài từ tháng X đến tháng IV năm sau, chỉ chiếm 19–26% lượng mưa năm. Lượng mưa tháng lớn nhất ghi nhận được là 1.489,0 mm tại Paksong (tháng VII/1999). Lượng mưa một ngày lớn nhất quan trắc được là 374,0 mm tại KongSedon (ngày 25/VI/1990) và 299,0 mm tại Saravan (ngày 18/IX/1996).

3. Luận án đã sử dụng những công cụ mô hình nào để giải quyết bài toán nghiên cứu?
Luận án sử dụng tổ hợp 4 công cụ mô hình chính:

  • 4 mô hình khí hậu vùng (RCM) gồm CCLM5-0-2 (EC-EARTH), CCLM5-0-2 (MPI-ESM-LR), REMO2009 (MPI-ESM-LR) và HadGEM3-RA (HadGEM2-AO) theo 2 kịch bản phát thải RCP4.5 và RCP8.5;
  • Mô hình SWAT để mô phỏng dòng chảy mưa - dòng chảy trên 20 tiểu lưu vực (hiệu chỉnh, kiểm định tại trạm Kongsedone và Sounvannakhily);
  • Mô hình CROPWAT để tính toán bốc thoát hơi và nhu cầu nước tưới nông nghiệp;
  • Mô hình WEAP để mô phỏng cân bằng nước và tính toán lượng thiếu hụt nước tại 20 tiểu lưu vực.

4. Kết quả cân bằng nước chỉ ra tình trạng thiếu hụt nguồn nước diễn biến như thế nào qua các giai đoạn?
Ở giai đoạn hiện tại, lưu vực đã xuất hiện tình trạng thiếu nước cục bộ trong các tháng cuối mùa khô (tháng II, III, IV) tại một số tiểu lưu vực do dòng chảy tự nhiên suy giảm và thiếu công trình trữ nước. Trong tương lai (giai đoạn 2030s và 2050s), dưới tác động của biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng làm tăng bốc hơi, lượng mưa mùa khô biến động giảm) cùng áp lực tăng trưởng kinh tế - xã hội, mức độ thiếu hụt nước mở rộng cả về diện tích và thời gian thiếu hụt theo tất cả các kịch bản RCM, đe dọa trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh.

5. Luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu nào để ứng phó với nguy cơ thiếu nước trên lưu vực sông Sedon?
Luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm hai nhóm:

  • Giải pháp công trình: Bố trí xây dựng bổ sung các công trình cấp nước và trữ nước đầu mối (hồ chứa, đập dâng, trạm bơm) theo các phương án quy hoạch dự kiến cho giai đoạn 2030s và giai đoạn 2050s nhằm tích trữ nước lũ để bổ hòa dòng chảy mùa kiệt;
  • Giải pháp phi công trình: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ lúa nước sang cây trồng cạn có mức tiêu thụ nước thấp hơn; áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước; tăng cường công tác quản lý tổng hợp tài nguyên nước và hoàn thiện cơ chế điều phối khai thác nước liên ngành giữa các địa phương trên lưu vực.

Kết luận

Luận án tiến sĩ kỹ thuật của tác giả Vinvilay Sayaphone đã thực hiện nghiên cứu toàn diện về khai thác, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Sedon trong bối cảnh biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế. Bằng việc tích hợp các mô hình RCM, SWAT, CROPWAT và WEAP, luận án đã định lượng được tiềm năng dòng chảy, nhu cầu dùng nước của 6 ngành và mức độ thiếu hụt nước chi tiết cho 20 tiểu lưu vực ở hiện tại cũng như các giai đoạn tương lai 2030s và 2050s. Các giải pháp công trình trữ nước đầu mối kết hợp giải pháp phi công trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tưới tiết kiệm nước được đề xuất là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quy hoạch thủy lợi và quản lý bền vững tài nguyên nước tại CHDCND Lào.