Chương 1. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BÌNH THUẬN Đưa ra các khái niệm về du lịch, tài nguyên, tài nguyên du lịch nhân văn… Quá trình phát triển du lịch Bình Thuận và vai trò của nguồn tài nguyên trong sự phát triển du lịch Bình Thuận gần 20 năm qua. Chương 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN TỈNH BÌNH THUẬN Giới thiệu, tổng hợp nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn; đánh giá thực trạng khai thác và hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Bình Thuận trong thời gian qua. Chương 3: GIẢI PHÁP KHAI THÁC VÀ ĐẦU TƯ TÀI NGUYÊN DU ̣ TỈNH BÌNH THUẬN LỊCH NHÂN VĂN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LICH Đề xuất các giải pháp khai thác tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BÌNH THUẬN 1. Du lich ̣ Du lịch hiện nay đang phát triển ở nhiều quốc gia. Để hiểu sâu sắc hơn về hoạt động du lịch, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiề u định nghĩa khác nha u về thuâ ̣t ngữ này. Theo ngôn ngữ phương Tây , thuâ ̣t ngữ Du lịch được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Tonos” nghĩa là đi một vòng.
Trong tiếng Pháp “Tour” nghĩa là đi vòng quanh, là một cuộc dạo chơi; “Touriste” là người đi dạo chơi. Theo Robert Langquar, vào khoảng năm 1800, “Tourism” lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh, được quốc tế hóa và sử dụng cho đến ngày nay. Vào năm 1963, Hội nghị LHQ về Du lịch ở Roma đã định nghĩa “Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ, hiện tượng, các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.17] Tuy nhiên, các học giả Trung Quốc gọi Du lịch là du lãm với nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức.
Dựa trên cơ sở phân tích bản chất và thuộc tính của hoạt động du lịch đã đưa ra định nghĩa “Du lịch là hiện tượng kinh tế xã hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hòa tất cả các mối quan hệ và hiện tượng do việc lữ hành để thõa mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí và văn hóa nhưng lưu động chứ không định cư mà tạm thời cư trú của mọi người dẫn tới”.551] Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada tháng 06/1991 lại có một định nghĩa “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”. Định nghĩa này thể hiện rõ quan điể m , du lịch là mô ̣t hoạt động không mang mục đích lơ ̣i nhuâ ̣n của con người. Tuy nhiên, đinh ̣ nghiã chưa thể hiê ̣n sự bao quát những nội hàm của hoa ̣t đô ̣ng du lịch. Ở một góc độ khác, tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) đã mở rộng khái niệm du lịch như sau: "Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm".
Với khái niê ̣m này , nô ̣i hàm của hoa ̣t đô ̣ng du lịch tuy có đề cập khá chi tiết nhưng vấn đề t hời gian du lich ̣ chưa phù hơ ̣p với nhiề u đố i tươ ̣ng khác nhau. Bên cạnh đó, Tổ chức Du lịch Thế giới đã định nghĩa, du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư. Trong tiếng Việt, thuật ngữ Du lịch là từ Hán - Việt. “Du” có nghĩa là đi chơi, “lịch” có nghĩa là từng trải.
Nhiề u tác giả đã đưa ra nhiề u đinh ̣ nghiã khác nhau. Từ điển tiếng Việt thông dụng đã định nghĩa “du lịch là đi đến nơi xa lạ để giải trí và hiểu thêm về đất nước, con người và cuộc sống” [22, tr. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì “du lịch là đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở ” [52, tr. Trong Từ điển bách khoa toàn thư mở, du lịch là đi du lịch để vui chơi, giải trí hoặc nhằm mục đích kinh doanh; là việc thực hiện chuyến đi khỏi nơi cư trú, có tiêu tiền, có thể lưu trú qua đêm và có sự trở về.
Trên cơ sở đó, có thể hiểu du lịch là hoạt động của con người về sự di chuyển và lưu trú ngoài nơi cư trú nhằm mục đích tham quan nghỉ dưỡng và nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh. Về cách diễn đạt tuy có khác nhau nhưng đa phầ n các khái niê ̣m đều hàm chứa nét nghĩa, du lịch là một hoạt động gắn liền với đi chơi, giải trí nhằm phục hồi nâng cao sức khoẻ và khả năng lao động của con người trong một thời gian nhất 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy nhiên, mục đích các chuyến đi du lịch không chỉ dừng lại ở việc nghỉ ngơi, giải trí mà còn nhằm thoả mãn nhu cầu về tinh thần. Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 tại khoản 1, điều 4 đã nêu đinh ̣ nghiã “ Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”.
Đinh ̣ nghiã này gắ n với thực tiễn hoa ̣t đô ̣ng du lich ̣ của du khách Viê ̣t Nam. Mă ̣t khác, định nghĩa này thể hiện được hướng nghiên cứu của luận văn nên đề tài cho ̣n đinh ̣ nghiã để làm đinh ̣ hướng nghiên cứu. Tài nguyên du lịch Thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên và các đối tượng văn hóa – lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm cả nguồn tài nguyên đã, đang và chưa được khai thác.
Đây được xem như là tiền đề để phát triển du lịch, nguồn tài nguyên càng phong phú, độc đáo, đặc sắc có mức độ tập trung cao thì càng hấp dẫn đối với du khách bấy nhiêu và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Việc xác định nguồn tài nguyên du lịch là một phần đóng góp quan trọng trong việc xây dựng những sản phẩm du lịch mà tiêu biểu là nhưng điểm tham quan phục vụ cho du khách và là cơ sở tạo nên những chương trình du lịch độc đáo mang đậm những sắc thái riêng ở mỗi vùng, miền. Xét ở góc độ cơ cấu tài nguyên du lịch, Luật Du Lịch Việt Nam (năm 2006) đã định nghĩa “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Như vậy, tài nguyên du lịch được chia thành tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch tự nhiên.
Các loại tài nguyên du lich ̣ 1. Tài nguyên du lịch tự nhiên 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên,… được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Địa hình Trong du lịch, từ đồng bằng cho đến trung du, miền núi, địa hình càng đa dạng, độc đáo thì càng có sức hấp dẫn du khách. Nói đến đồng bằng, chủ yếu là địa hình sông nước.
Tuy đối với một số người, nó ít có sức hấp dẫn vì tính đơn điệu, nhưng số khác đã xem đây là những điểm đến khá thú vị. Vì thế, ở một số quốc gia, du lịch sông nước khá thịnh hành. Đến đây, họ được hòa mình vào thiên nhiên và cuộc sống cộng đồng trong một không gian thoáng mát, đầy cây xanh, tham gia các thú vui như câu cá, chèo thuyền, tắm sông, thưởng thức những món đặc sản sông nước. Hoặc có khi du khách được ngắm thành phố mình ưa thích khi đang lướt trên sóng nước.
Đối với vùng đồi núi, nơi có nhiều sông suối, thác nước, hang động, rừng cây, có khí hậu mát mẻ, thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch thể thao (leo núi, vượt thác), du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng …. Đặc biệt, miền núi là địa bàn sinh sống của đa số đồng bào các dân tộc ít người, với sự đa dạng văn hóa cũng là yếu tố để thu hút du khách đến tham quan, khám phá về phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt của cộng đồng,…. Ở nước ta, một số kiểu địa hình có cảnh quan thu hút du khách như kiểu địa hình karst gắn với một số địa danh nổi tiếng như động Phong Nha, động Thiên Đường (Bố Trạch – Quảng Bình), động Tiên Cung, hang Đầu Gỗ (Hạ Long), Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình), động Hương Tích (Hà Tây)… 1. Biển Biển không chỉ là cầu nối để phát triển thương mại và giao thương quốc tế.
Ngày nay, biển còn có vai trò quan trọng, là nguồn tài nguyên du lịch phong phú về tiềm năng. Biển là điểm đến lý tưởng được nhiều du khách lựa chọn bởi sự hấp dẫn của những bãi biển đẹp, nước biển sạch, không khí trong lành. Biển thích hợp với 1 Điều 13, chương II. Luật du lịch Việt Nam số 44/2005/QH 11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiều loại hình du lịch như du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, du lịch thể thao, du lịch ẩm thực, du lịch khám phá các loại hình văn hóa biển.
Việt Nam với 3.200km đường bờ biển, nhiều bãi tắm đẹp, trải dài từ Bắc đến Nam như Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), Nha Trang (Khánh Hòa), Mũi Né (Bình Thuận), Vũng Tàu.