CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. KHÁI QUÁT VỀ HỌ SIM–MYRTACEAE [8] Họ Sim-Myrtaceae phân bố ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới, chủ yếu ở châu Mỹ và châu Úc.Họ Sim là một họ lớn gồm 90 chi và 3000 loài, các cây thuộc họ Sim có đặc điểm thực vật như sau: Cây gỗ lớn, cây nhỡ hoặc cây bụi. Lá đơn, hoặc mép có khía răng, lá thường mọc đối nhau và có tuyến mỡ. Hoa mọc thành cụm ở nách hay ở đầu cành, có hình xim hoặc hình chùm.
Hoa đều lưỡng tính. Đài hình ống dính hoàn toàn vào bầu hay chỉ dính một ít. Lá đài gồm 4-5 cánh xếp lợp vào nhau, ít có ống dài nguyên. Lá của chúng thuộc loại thường xanh, mọc so le hay mọc đối, lá đơn và thông thường có mép lá nhẵn (không khía răng cưa).
Hoa thường có 5 cánh hoa, mặc dù ở một vài chi thì cánh hoa rất nhỏ hay không có. Nhị hoa thường rất dễ thấy, có màu sáng và nhiều về lượng.Nhị xếp thành một hay nhiều dãy rời nhau hoàn toàn hoặc dính ở gốc thành ống ngăn: bao phấn đính ở lưng hay gốc. Đĩa mật không có hay nếu có thì hình vành khăn, che kín ở phía gốc vòi. Bầu hoàn toàn hạ hay hạ một phần, có 4-5 ô hay nhiều hơn; vòi đơn kéo dài, đầu tròn, rất ít khi chia 3-4 thùy; trong bầu thì noãn xếp thành hai hay nhiều dãy.
Quả nang hoặc thịt, có sợi và thường được bọc kín bởi ống đài.Trong quả thường có 1 hạt, hạt có nội nhũ, phôi thẳng hay cong, đôi khi nạc với hai lá mầm không xa nhau. Các cây thuộc họ Sim thường mọc xen lẫn với các cây gỗ khác thành đai rừng nhiệt đới, ít khi mọc thuần loại. ChiCleistocalyx [5, 11] Chi Cleistocalyx là một chi tương đối lớn của họ Sim. Ngoài đặc điểm chung của họ Sim: thường là cây gỗ hoặc cây nhỡ, lá mọc đối, có cuống; phiến lá có gân bên xếp hình lông chim.Cụm hoa ở nách hoặc ở ngọn, dạng chùy.
Hoa lưỡng tính, đài có các lá đài dính nhau từ trong nụ và khi rơi toàn bộ thành một vòng trên phần còn lại của đài và bầu, các loài cây thuộc chi Cleistocalyx còn có đặc điểm thực vật riêng: quả nạc, khi chín không nở. Vòi không có lông, ô quả không có vách ngang chia thành ô nhỏ, ống đài nguyên hay rách bất định, đài nguyên thành mũ, quả mập có một hạt.Cụm hoa xim hay chuỳ. Sau đây là một số cây đại diện thuộc chi Cleistocalyx thường thấy ở Việt Nam. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Cleistocalyx circumcissa (Trâm ô) Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc cao 15m, nhánh mảnh, lá có phiến xoan thon, dài 4-7cm, chót có mũ, có đốm trong gân phụ, rất mảnh, nụ cao 13mm, rộng 3mm, phần của đài và cánh hoa làm thành một lớp rụng sớm với nhị, noãn gồm 3 buồng, quả mập. Hình 1: Cleistocalyx circumcissa Phân bố: rừng Biên Hoà. Cleistocalyx nigrans (Trâm lá đen) Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc nhỏ, nhánh vàng đỏ. Lá có phiến bầu dục, màu nâu đen trên mặt lúc khô, gân phụ cách nhau 2-3mm, cuống dài 1cm.
Chùm tụ tán cao 6cm ở ngọn nhánh, hoa trắng, nụ dài 5mm, hoa 5 cánh rụng 1 lượt, tiểu nhị nhiều. Quả mập tròn, lúc khô đen, to hơn 1cm, một hạt. Hình 2: Cleistocalyx nigrans 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phân bố: rừng Bình Dương, Thủ Đức. Cleistocalys nervosum(Trâm nắp vối) Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc trung, nhánh non dẹp, không lông.
Lá có phiến bầu dục thon, dài 12-13cm, có đốm nâu, gân phụ vào 10 cặp, gân cách bìa 3-5mm. Phát hoa ở nách lá rụng, cao 5-8cm, đài hình đĩa hơi đứng, nắp cao; hoa có 4 cánh, cao 3mm, có nhiều tiểu nhụy. Phì quả tròn hay dài, to 7-14mm, đỏ hoặc đỏ đen chói, nạc ngọt, một hạt. Hình 3: Cleistocalys nervosum Phân bố: rừng Bắc Trung Nam.
Cleistocalyx rehnervinus(Vối gân mạng) Đặc điểm thực vật: Cây đại mộc nhỏ, nhánh tròn xám, to 2-3mm. Lá có phiến bầu dục đến trái xoan, to 9-14x5,5-7cm chót lá rộng, đáy tròn gân phụ mịn, cách nhau 4-8mm, gân cách bìa 2-3mm. Phát hoa ở lá và ngọn. Hoa như không cọng, cao 7mm, đài rụng thành chóp, tiểu nhụy nhiều.
Trái tròn, to 1,5mm, lùm bụi. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hình 4: Cleistocalyx rehnervinus Phân bố: các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam. Cleistocalyx consperipuactatus (Vối nước) Đặc điểm thực vật: Cây gỗ thường xanh, cao 20-25m. Vỏ dày 6-8mm, màu xám trắng hay nâu đen nhạt.
Cành non màu nâu xám, hình vuông, lúc già hình cột tròn. Lá đơn, mọc đối, hình bầu dục dạng trứng ngược dài 6-12cm, rộng 2,5-5,5cm, đầu tròn tù. Hoa mọc cụm, sinh ra đầu cành.Hoa lưỡng tính, đài đính thành 1 thể dạng mũ, lúc nở hoa rụng dạng vòng.Nhiều nhị, rời nhau, lúc chồi hoa cong vào. Quả mọng hình cầu hay hình trứng, lúc chín có màu nâu tím.
Một năm có 2 mùa hoa nở vào tháng 3 và giữa tháng 7. Hình 5: Cleistocalyx consperipuactatus Phân bố: Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, GiaLai-KonTum. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số nghiên cứu dược lý về chi Cleistocalyx Năm 2012, Charoensin S.và cộng sự đã đánh giá tác dụng chống đột biến dịch chiết nước của Cleistocalyx nervosumvar.
panialainvitrovà mô hình động vật thực nghiệm [16]. Cleistocalyx nervosum var. paniala, được tìm thấy ở miền Bắc Thái Lan, có quả ăn được chứa một lượng lớn các hợp chất phenolic có tác dụng chống oxi hóa. Dịch chiết nước của trái cây chín được đánh giá an toàn và tác dụng gây độc gen và độc tính.
nervosum không gây đột biến ở vi khuẩn Salmonella typhimurium chủng TA98 và TA100 khi có và không có sự kích hoạt trao đổi chất,có tác dụng chống gây đột biến trung bìnhvới độc tố aflatoxin B1. Phân tích phổ ESI-MS cho thấy dịch chiết có một lượng lớn anthocyanin, bao gồm cyanidin-3,5- diglucosid,cyanidin-3-glucosid và cyanidin-5-glucosid.000 mg/kg thể trọng không gây ra độc tính cấp tính ở chuột. Một thử nghiệm được thực hiện để phát hiệnảnh hưởng của cáccleistogenlàm đứt gãy nhiễm sắc thể. Các dịch chiết ở liều 1.000 mg/kg không gây ra sự hình thành vi nhân trong gan của chuột.
Các nghiên cứu này cung cấp dữ liệu cho thấy sự an toàn và hiệu lực chống gây đột biếncủa dịch chiết nước trái cây C. và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của Cleistocalyxnervosum (CE) trên diethylnitrosamine (DEN) và phenobarbital (PB) gây stress oxy hóa trong giai đoạn đầu ung thư gan chuột. Chuột đực Wistar được chia thành 4 nhóm, với nhóm 1 làđối chứng âm và nhóm 2 là nhóm tích cực được tiêm DEN mỗi tuần một lần và PB trong nước uống trong 6 tuần. Hai tuần trước khi bắt đầu điều trị DEN và PB, các nhóm 3 và 4 được cho ăn với liều 500 và 1000 mg/kg CEStrong 8 tuần.
Kết quả một số ổ GST-P, tổn thương tiền ung thư trong gan tăng đáng kể trong chuột gây ung thư, nhưng giảm trong chuột được điều trị bằng 1000 mg/kg CE. CE gây giảm malondialdehyde trong huyết thanh và trong gan chuột được điều trị với DEN và PB. Hơn nữa, CE tăng đáng kể peroxidase, hoạt tính của glutathione và catalase trong gan chuột. Như vậy nghiên cứu đã chỉ ra rằng Cleistocalyx nervosum (CE) điều chỉnh trạng thái chống oxy hóa và ngăn ngừa ung thư[40].
vàcộng sự đã nghiên cứu hoạt tính chống lão hóa in vitro của các chất chiết từ lá Cleistocalyxnervosum var.Lá cây được chiết bằng nước, metanol, và chloroform bằng cách chiết siêu âm và chiết nóng.Các dịch 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chiết được xác định tổng phenolic và flavonoid. Các dịch chiếtở 0,001-10 mg/mlđược thử nghiệm hoạt tính chống oxi hóa và hoạt tính ức chế tyrosinase sử dụng phương pháp so màu. Khả năng gây độc của dịch chiết ở 0,0001-1 mg/ml được xác định với các nguyên bào sợi da người. Ngoài ra, các dịch chiết ở 0,001, 0,01 và 0,1 mg/ml không có độc tính.Dịch chiết lạnh metanol lá già cho tổng sốliều phenolic cao nhất 511,44±18,23 mg GAE/mg và hàm lượng flavonoid 262,96±2,98 mg QE/mg.
Dịch chiết này cũngquét gốc tự do, ức chế sự peroxid hóa lipid, và ức chế tyrosinase với các giá trị SC50, IPC50 và IC50là 0,02±0,004, 0,23±0,13 và 0,02±0,006 mg/ml. Dịch chiết ở 0,1 mg/ml ức chế MMP-2 cao nhất 91,14±1,67%.Dịch chiết lạnh metanol từ lá già có thể được tiếp tục phát triển thành tác nhân chống lão hóa. và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng bảo vệ của Cleistocalyx nervosum var. đối với cadmium.
Cadmiumgây độc thận là một vấn đề sức khỏe môi trường nghiêm trọng vì cuối cùng nó sẽ kết thúc với bệnh thận giai đoạn cuối [36]. Cơ chế sinh hóa các kim loại nặng độc hại này có liên quan đến stress oxi hóa. Nghiên cứu khảo sát xem liệu Cleistocalyx nervosum var. paniala(CNFE) có thể bảo vệ chống lại sự hư hại oxi hóa thậngây bởi cadmium.
Phân tích ban đầu cho thấy khả năng chống oxy hóa caocủa dịch chiết và nồng độ polyphenol, đặc biệt là catechin. Tác dụng với thận của dịch chiết đượcnghiên cứu ở chuột đã được xử lývới tá dượcCNFE, cadmium (2 mg/kg), và cadmium cộng CNFE (0,5, 1,2 g/kg) trong bốn tuần. Sự hư hại thận bởi oxi hóathận được phát triển sau tiếp xúc với cadmium như sự lưu giữ nitơ urê máu và creatinin, sự giảm lọc cầu thận, sự tổn thương cấu trúc thận, cùng với nitric oxide và malondialdehyde tăng, nhưng chất chống oxi hóathiol, superoxide dismutase, catalase giảm trong các mô thận. Sự gây độc thận bởi cadmium giảm đi trong chuột được bổ sung CNFE, đặc biệt là ở liều 1 và 2g/kg.
Có thể kết luận rằng CNFE có thể bảo vệ chống lại sự gây độc thận cadmium, chủ yếu qua tác dụng chống oxi hóa. Các kết quả cho thấy vai trò của chất chống oxi hóa thiên nhiên này trong việc chống lại các bệnh khác gây bởi sự phá vỡ sự cân bằng nội môi oxi hóa khử. CÂY VỐI (CLEISTOCALYX OPERCULATUSROXB.Đặc điểm thực vật [7] Cây Vối có tên khoa học là Cleistocalyx operculatus Roxb. et Perry, thuộc họ Sim (Myrtaceae), là loại cây thân mộc cỡ vừa, có thể cao tới 12-15 m.
Vỏ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com màu nâu đen, nứt dọc. Cành cây tròn hay đôi khi có hình 4 cạnh, nhẵn.Lá có cuống dài 8-20 cm, hình trái xoan ngược hay bầu dục, hình trứng rộng 5-10 cm, giảm nhọn ở gốc, có mũi nhọn ngắn, hai mặt cùng màu nhạt có đốm màu nâu, phiến dày, dai, cứng, lá già có chấm đen ở mặt dưới. Hai mặt lá có những đốm màu nâu, cuống lá ngắn tầm 1-1,5 cm. Hoa nhỏ gần như không có cuống, màu trắng lục, họp thành cụm 3-5 hoa ở nách lá.
Nụ hoa dài, 4 cánh, nhiều nhị. Cụm hoa hình tháp, trải ra ở kẽ các lá đã rụng. Cây ra hoa tháng 5-7. Quả hình cầu hay hơi hình trứng, nhăn nheo, đường kính 7-12 mm, nháp, có dịch, khi chín màu tím.