Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tại Việt Nam tạo ra nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên diện rộng, chuyển dịch từ đất sản xuất nông nghiệp sang đất công nghiệp, dịch vụ và hạ tầng kỹ thuật. Tại tỉnh Thái Nguyên, việc quy hoạch và xây dựng các khu, cụm công nghiệp là một trong những định hướng trọng tâm nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của địa phương. Tuy nhiên, việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ xây dựng hạ tầng kỹ thuật cũng trực tiếp làm thu hẹp tư liệu sản xuất của người dân nông thôn, kéo theo những xáo trộn về việc làm, nguồn thu nhập, tập quán sinh hoạt và chất lượng môi trường sống.
Cụm công nghiệp (CCN) An Khánh I tại xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên được thành lập với quy hoạch chi tiết 64,6 ha, do Công ty Cổ phần Nhiệt điện An Khánh làm chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng. Cụm công nghiệp này thu hút 03 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 4.572 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy đạt 100%, gồm: Nhà máy Nhiệt điện An Khánh, Nhà máy Xi măng Quan Triều và Nhà máy sản xuất vật liệu siêu nhẹ. Sự hình thành và đi vào hoạt động của các dự án này đã tác động mạnh mẽ đến cơ cấu sử dụng đất và đời sống kinh tế - xã hội của cư dân bản địa.
Trước thực tế đó, đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình xây dựng và phát triển cụm công nghiệp An Khánh I đến phát triển kinh tế xã hội xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể:
- Đánh giá thực trạng biến động sử dụng đất trên địa bàn xã An Khánh, huyện Đại Từ trong giai đoạn 2010 – 2013 dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa.
- Đánh giá những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của quá trình xây dựng, phát triển Cụm công nghiệp An Khánh I tới đời sống kinh tế, việc làm, thu nhập và môi trường của người dân trong vùng dự án.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm ổn định tình hình sử dụng đất, giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho các hộ gia đình bị thu hồi đất tại xã An Khánh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Sự biến động đất đai (trọng tâm là đất sản xuất nông nghiệp) và những ảnh hưởng của quá trình xây dựng, phát triển Cụm công nghiệp An Khánh I đến đời sống kinh tế - xã hội của các hộ dân trong khu vực chịu tác động.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã An Khánh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (tập trung tại các xóm bị thu hồi đất: Tân Tiến, Chàm Hồng, Cửa Nghè, Bãi Chè).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2009 – 2013; số liệu sơ cấp điều tra thực địa tại các hộ gia đình năm 2013. Thời gian triển khai thực hiện nghiên cứu từ tháng 02/2014 đến tháng 04/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý
Nghiên cứu vận dụng lý luận về mối quan hệ giữa công nghiệp hóa với đô thị hóa, vai trò liên kết ngành trong nền kinh tế và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh. Tác giả tiếp cận khái niệm cụm công nghiệp theo các quy định hiện hành của Nhà nước: cụm công nghiệp là khu vực tập trung do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt thành lập, có quy mô diện tích không quá 50 ha (trường hợp mở rộng không vượt quá 75 ha), được bố trí tách biệt khu dân cư, gắn với nguồn lao động và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.
Văn bản quy phạm pháp luật và chính sách được sử dụng làm căn cứ đối chiếu gồm:
- Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Quyết định số 27/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp.
- Các quy định, đề án của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Đề án phát triển cụm công nghiệp tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2015; các văn bản quy định giá thuê đất và chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh lý thuyết trong nước, khóa luận tổng quan kinh nghiệm quốc tế về phát triển khu công nghiệp tại Nhật Bản (chính sách cơ sở pháp lý, phân vùng khu công nghiệp ven biển và nội địa), Hàn Quốc (lộ trình công nghệ, gắn kết công nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học) và kinh nghiệm thực tiễn từ các tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa nhanh như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Tác giả kết hợp đồng thời phương pháp định tính và định lượng qua các kỹ thuật thu thập, xử lý dữ liệu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa các báo cáo thống kê đất đai, báo cáo kinh tế - xã hội thường niên của UBND xã An Khánh giai đoạn 2009 – 2013; Báo cáo quy hoạch sử dụng đất huyện Đại Từ; Báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án Cụm công nghiệp An Khánh I; Đề án phát triển cụm công nghiệp tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2015.
- Phương pháp điều tra sơ cấp: Sử dụng bảng hỏi cấu trúc để phỏng vấn cá nhân trực tiếp 77 hộ gia đình bị thu hồi đất trên địa bàn xã. Mẫu khảo sát được phân tầng thành 02 nhóm đối tượng đại diện:
- Nhóm 1: Hộ bị thu hồi từ 50% tổng diện tích đất trở lên (29 hộ).
- Nhóm 2: Hộ bị thu hồi dưới 50% tổng diện tích đất (48 hộ).
- Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu: Thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu số liệu trước và sau thời điểm thu hồi đất bằng bảng biểu và tỷ lệ phần trăm; đánh giá hiệu quả kinh tế, biến động ngành nghề, cơ cấu thu nhập và ý kiến cộng đồng về tác động môi trường.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ áp lực công nghiệp hóa lên quỹ đất nông nghiệp tại huyện Đại Từ nói chung và xã An Khánh nói riêng. Xác định 03 mục tiêu nghiên cứu, chỉ rõ ý nghĩa lý luận, thực tiễn và các yêu cầu kỹ thuật đối với độ tin cậy của số liệu thống kê.
Phần II: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Phần này hệ thống hóa các vấn đề lý luận về vai trò của công nghiệp hóa, bản chất của khu/cụm công nghiệp và tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đến việc làm, sinh kế của hộ nông dân. Tác giả dẫn chứng số liệu cả nước giai đoạn 2001 – 2005 đã thu hồi gần 370 nghìn ha đất nông nghiệp, tác động đến khoảng 2,5 triệu nhân khẩu (trung bình 1 ha đất thu hồi làm mất việc làm của hơn 10 lao động).
Đồng thời, phần tổng quan phân tích thực trạng phát triển cụm công nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên: tính đến hết năm 2010, toàn tỉnh có 18 cụm công nghiệp được phê duyệt quy hoạch chi tiết với 14 cụm có chủ đầu tư hạ tầng (tổng diện tích 518,86 ha, vốn đăng ký 935 tỷ đồng). Bảng thống kê chi tiết vốn đầu tư hạ tầng của 16 cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh cho thấy CCN An Khánh I có vốn đăng ký xây dựng hạ tầng là 86,84 tỷ đồng (vốn đã thực hiện đến hết năm 2009 đạt 50 tỷ đồng, năm 2010 thực hiện 70,6 tỷ đồng).
Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định không gian nghiên cứu tại xã An Khánh, thời gian thực địa đầu năm 2014. Trình bày chi tiết phương pháp điều tra chọn mẫu 77 hộ gia đình thuộc 4 xóm bị ảnh hưởng bởi CCN An Khánh I và các quy trình tổng hợp, xử lý số liệu sơ cấp, thứ cấp.
Phần IV: Kết quả thực trạng ảnh hưởng của cụm công nghiệp An Khánh I đến biến động sử dụng đất xã An Khánh - Đại Từ và giải pháp
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Xã An Khánh có tổng diện tích tự nhiên là 1.452,46 ha, địa hình đồi núi trung du thấp dần từ Tây sang Đông, khí hậu nhiệt độ trung bình năm 22,9°C. Năm 2013, dân số toàn xã là 5.617 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,2%, tăng cơ học 0,11%. Lực lượng lao động đạt 3.950 người (chiếm 61,2% dân số), tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp (16,7%), tỷ lệ hộ nghèo là 11,69%. Cơ cấu kinh tế năm 2013 thuần nông với nông nghiệp chiếm 90,3%, thương mại - dịch vụ 3,4%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 6,3%. Thu nhập bình quân đạt 10 triệu đồng/người/năm.
Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 và biến động giai đoạn 2010 – 2013 được tổng hợp qua bảng số liệu:
| STT |
Mục đích sử dụng đất |
Mã đất |
Năm 2010 (ha) |
Năm 2013 (ha) |
Biến động Tăng (+)/Giảm (-) (ha) |
| 1 |
Đất nông nghiệp |
NNP |
1.229,78 |
1.159,28 |
-70,50 |
| 1.1 |
Đất sản xuất nông nghiệp |
SXN |
655,07 |
585,02 |
-70,05 |
|
Trong đó: Đất trồng lúa |
LUA |
427,33 |
364,25 |
-63,08 |
|
Đất trồng cây hàng năm khác |
HNK |
58,45 |
56,58 |
-1,87 |
|
Đất trồng cây lâu năm |
CLN |
169,29 |
164,19 |
-5,10 |
| 1.2 |
Đất lâm nghiệp (rừng sản xuất) |
LNP |
549,10 |
549,10 |
0,00 |
| 1.3 |
Đất nuôi trồng thủy sản |
NTS |
25,61 |
25,16 |
-0,45 |
| 2 |
Đất phi nông nghiệp |
PNN |
215,90 |
286,48 |
+70,58 |
| 2.1 |
Đất ở nông thôn |
ONT |
71,96 |
69,96 |
-2,00 |
| 2.2 |
Đất chuyên dùng |
CDG |
118,89 |
194,33 |
+75,44 |
|
Trong đó: Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp |
CSK |
21,95 |
94,75 |
+72,80 |
|
Đất có mục đích công cộng |
CCC |
94,80 |
99,58 |
+4,78 |
| 2.3 |
Các loại đất phi nông nghiệp khác (nghĩa trang, sông suối...) |
- |
25,05 |
22,19 |
-2,86 |
| 3 |
Đất chưa sử dụng |
CSD |
6,78 |
6,70 |
-0,08 |
|
Tổng diện tích tự nhiên |
|
1.452,46 |
1.452,46 |
0,00 |
Nguồn: UBND xã An Khánh và tính toán của tác giả
Số liệu cho thấy đất sản xuất nông nghiệp giảm 70,05 ha, trong đó đất trồng lúa giảm mạnh nhất (-63,08 ha). Ngược lại, đất chuyên dùng tăng 75,44 ha, tập trung chủ yếu vào đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (+72,80 ha) phục vụ mặt bằng Cụm công nghiệp An Khánh I.
Thực trạng phát triển CCN An Khánh I và các đợt thu hồi đất
CCN An Khánh I quy hoạch 64,6 ha với cơ cấu phân bổ: Nhà máy Nhiệt điện An Khánh 30,0 ha (46,44%), Nhà máy Xi măng Quan Triều 18,841 ha (29,16%), Nhà máy sản xuất vật liệu siêu nhẹ và cây xanh 11,05 ha (17,10%), đất đường giao thông 4,709 ha (7,30%).
Tính đến hết năm 2013, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành 03 quyết định thu hồi đất với tổng diện tích 295.296 m² của 120 hộ gia đình thuộc các xóm Tân Tiến, Chàm Hồng, Cửa Nghè và Bãi Chè:
- Đợt 1 (Quyết định số 2088/QĐ-UBND ngày 27/05/2010): Thu hồi 6.436 m² của 07 hộ (5.180 m² đất lúa còn lại, 1.256 m² đất trồng cây hàng năm khác).
- Đợt 2 (Quyết định số 5485/QĐ-UBND ngày 27/10/2010): Thu hồi 274.872 m² của 105 hộ (11.605 m² đất ở nông thôn; 139.211 m² đất trồng cây hàng năm; 116.093 m² đất cây lâu năm; 5.849 m² đất thủy sản; 2.114 m² đất lâm nghiệp).
- Đợt 3 (Quyết định số 2768/QĐ-UBND ngày 28/04/2011): Thu hồi 13.988 m² của 08 hộ (800 m² đất ở nông thôn; 2.293 m² đất trồng cây hàng năm; 723 m² đất cây lâu năm; 1.150 m² đất thủy sản; 3.021 m² đất lâm nghiệp; 307 m² đất chuyên trồng lúa; 5.694 m² đất lúa còn lại).
Ảnh hưởng của CCN An Khánh I đến các hộ nông dân điều tra
1. Ảnh hưởng đến quỹ đất bình quân:
- Nhóm thu hồi ≥ 50% diện tích (29 hộ): Tổng diện tích đất bình quân giảm từ 8.242,05 m²/hộ xuống 2.462,05 m²/hộ (giảm 70,13%). Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp giảm từ 7.682,94 m²/hộ xuống còn 2.295,99 m²/hộ (giảm hơn 3,3 lần).
- Nhóm thu hồi < 50% diện tích (48 hộ): Tổng diện tích đất bình quân giảm từ 8.084,25 m²/hộ xuống 6.570,83 m²/hộ. Đất nông nghiệp giảm từ 7.523,15 m²/hộ xuống 6.063,69 m²/hộ.
2. Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề:
| Nhóm ngành nghề |
Nhóm thu hồi ≥ 50% đất (29 hộ) |
|
Nhóm thu hồi < 50% đất (48 hộ) |
|
|
Trước THĐ (%) |
Sau THĐ (%) |
Trước THĐ (%) |
Sau THĐ (%) |
| Thuần nông |
65,52 |
13,79 |
79,17 |
56,25 |
| Kiêm nông nghiệp |
34,48 |
72,41 |
20,83 |
41,67 |
| Phi nông nghiệp |
0,00 |
13,79 |
0,00 |
2,08 |
Tỷ lệ hộ thuần nông giảm mạnh ở cả hai nhóm; phần lớn các hộ chuyển sang hình thức kiêm nghề (làm nông kết hợp phụ hồ, buôn bán nhỏ, lao động tự do) hoặc chuyển hẳn sang phi nông nghiệp do mất toàn bộ đất canh tác.
3. Biến động thu nhập và cơ cấu nguồn thu:
- Nhóm thu hồi ≥ 50% diện tích: Tổng thu nhập bình quân tăng từ 30.018,61 nghìn đồng lên 51.727,59 nghìn đồng/hộ/năm. Cơ cấu thu nhập biến động sâu sắc: nguồn thu nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng từ 22.389,31 nghìn đồng (chiếm 74,58%) xuống 7.530,00 nghìn đồng (chiếm 14,56%). Ngược lại, lãi tiền gửi ngân hàng tăng vọt lên 24.127,59 nghìn đồng/hộ/năm (chiếm 46,64% tổng thu nhập) do các hộ nhận tiền bồi thường lớn nhưng chưa chuyển đổi mô hình sản xuất nên gửi tiết kiệm lấy lãi. Nguồn thu từ lương lao động tăng lên 12.724,14 nghìn đồng (24,60%).
- Nhóm thu hồi < 50% diện tích: Tổng thu nhập bình quân tăng từ 25.722,92 nghìn đồng lên 33.454,17 nghìn đồng/hộ/năm; thu nông nghiệp vẫn giữ vai trò chính dù giảm tỷ trọng từ 87,18% xuống 59,61%.
4. Tình hình sử dụng tiền đền bù:
Đối với nhóm hộ mất ≥ 50% đất: 93,10% số hộ dùng tiền đền bù để xây dựng lại nhà ở (do bị giải tỏa đất ở); 82,76% hộ gửi tiết kiệm ngân hàng; 44,83% đầu tư sản xuất kinh doanh; 41,38% mua sắm tiện nghi sinh hoạt; chỉ có 24,14% hộ dành chi phí cho học tập và đào tạo nghề.
5. Đánh giá tác động môi trường và xã hội:
Khảo sát 77 hộ dân về chất lượng môi trường khu vực quanh CCN An Khánh I cho kết quả:
- Môi trường xấu hơn: 52 hộ (chiếm 67,53%).
- Môi trường không đổi: 25 hộ (chiếm 32,47%).
- Môi trường tốt hơn: 0 hộ (0%).
Nguyên nhân chủ yếu do bụi phát tán từ bãi than xỉ, khói bụi vận chuyển vật liệu xây dựng, tiếng ồn máy móc và tình trạng ô nhiễm, sụt giảm mạch nước ngầm sinh hoạt do quá trình thi công hạ tầng.
Một số giải pháp cơ bản nhằm ổn định tình hình biến động sử dụng đất
Tác giả đề xuất 04 nhóm giải pháp:
- Giải pháp lao động - việc làm: Phối hợp giữa chính quyền địa phương và các doanh nghiệp trong cụm công nghiệp (đặc biệt là Nhà máy Nhiệt điện An Khánh và Xi măng Quan Triều) tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, ưu tiên tuyển dụng lao động thuộc diện bị thu hồi đất vào làm công nhân kỹ thuật hoặc dịch vụ phụ trợ.
- Giải pháp chuyển dịch cơ cấu cây trồng: Trên diện tích đất nông nghiệp còn lại, chuyển đổi sang thâm canh cây chè chất lượng cao và phát triển rau màu hàng hóa có giá trị kinh tế nhằm bù đắp phần sản lượng lúa bị mất.
- Giải pháp về vốn: Tuyên truyền, tư vấn quản lý tài chính để người dân tránh tiêu xài lãng phí tiền bồi thường; khuyến khích chuyển dòng vốn từ gửi tiết kiệm sang đầu tư các mô hình kinh doanh, dịch vụ thương mại nông thôn bền vững.
- Giải pháp bảo vệ môi trường: Tăng cường giám sát việc xả thải, yêu cầu các nhà máy vận hành nghiêm ngặt hệ thống xử lý khí thải, nước thải tập trung, che chắn bãi tập kết vật liệu và bãi thải xỉ than để hạn chế bụi phát tán vào khu dân cư.
Phần V: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết toàn bộ các phát hiện về biến động đất đai và chuyển dịch sinh kế tại xã An Khánh. Đưa ra kiến nghị đối với UBND tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện Đại Từ và các đơn vị đầu tư hạ tầng trong việc hoàn thiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề dài hạn cho nông dân mất đất.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Xác định biến động diện tích đất đai cụ thể tại xã An Khánh giai đoạn 2010 – 2013: đất nông nghiệp giảm 70,50 ha (đất chuyên trồng lúa mất 63,08 ha), đất phi nông nghiệp tăng tương ứng 70,58 ha (riêng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tăng 72,80 ha để phục vụ mặt bằng CCN).
- Bóc tách chi tiết 03 đợt thu hồi đất xây dựng CCN An Khánh I với tổng diện tích 295.296 m² liên quan trực tiếp đến 120 hộ dân tại 4 xóm Tân Tiến, Chàm Hồng, Cửa Nghè và Bãi Chè.
- Đo lường tác động phân hóa qua mẫu điều tra 77 hộ:
- Nhóm hộ thu hồi ≥ 50% diện tích đất nông nghiệp sụt giảm nghiêm trọng (từ 7.682,94 m² xuống 2.295,99 m²/hộ); tỷ lệ hộ thuần nông giảm từ 65,52% xuống 13,79%.
- Cơ cấu thu nhập của nhóm mất nhiều đất có sự gia tăng ảo về mặt tài chính ngắn hạn: tiền lãi ngân hàng từ nguồn bồi thường chiếm tới 46,64% tổng thu nhập năm 2013, trong khi thu nhập thuần nông nghiệp giảm từ 74,58% xuống 14,56%.
- Ghi nhận 67,53% hộ dân đánh giá chất lượng môi trường không khí và nguồn nước sinh hoạt bị suy giảm do hoạt động của các dự án công nghiệp.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã cung cấp hệ thống dữ liệu vi mô độc lập về thực trạng đời sống kinh tế - xã hội của nông dân sau thu hồi đất tại địa bàn một xã trung du miền núi phía Bắc. Điểm đóng góp nổi bật của nghiên cứu là chỉ rõ hiện tượng gia tăng thu nhập của người dân sau giải phóng mặt bằng chủ yếu dựa vào nguồn lãi tiền gửi ngân hàng (vốn đền bù) chứ không phải từ sinh kế việc làm ổn định mới. Đây là phát hiện thực tế có giá trị phản biện đối với công tác quy hoạch chuyển đổi ngành nghề sau thu hồi đất nông nghiệp tại các địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Thời gian khảo sát thực địa ngắn (tháng 02/2014 – 04/2014) nên việc theo dõi diễn biến thu nhập của các hộ mới chỉ dừng lại ở thời điểm ngay sau khi nhận tiền đền bù (năm 2013).
- Mẫu điều tra sơ cấp gồm 77 hộ tập trung tại địa bàn xã An Khánh, chưa khảo sát đối chứng với các xã lân cận cùng chịu ảnh hưởng của khói bụi và tiếng ồn từ Cụm công nghiệp An Khánh I (như xã Cù Vân, xã Phúc Hà).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng đánh giá dài hạn tác động kinh tế hộ gia đình sau khi nguồn tiền gửi tiết kiệm bồi thường cạn kiệt hoặc lãi suất thay đổi, nhằm kiểm chứng mức độ bền vững của các mô hình sinh kế phi nông nghiệp.
- Thực hiện các quan trắc định lượng độc lập về nồng độ bụi ($SO_2, CO, NO_2$) và kim loại nặng trong đất, nguồn nước xung quanh bãi than xỉ của Nhà máy Nhiệt điện An Khánh khi cụm công nghiệp vận hành tối đa công suất.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Địa chính Môi trường, Quản lý đất đai, Phát triển nông thôn và Kinh tế tài nguyên trong việc thiết kế phương pháp luận điều tra phân tầng mẫu hộ dân bị ảnh hưởng bởi các dự án hạ tầng công nghiệp.
- Cán bộ làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và xã; cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng chính sách đào tạo nghề và chuyển dịch lao động thích ứng với tình hình mất đất sản xuất.
- Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống bảng số liệu điều tra chi tiết tại Bảng 4.5, 4.6, 4.7 và 4.8, minh họa rõ nét mối tương quan giữa diện tích đất bị thu hồi với cơ cấu việc làm, cơ cấu thu nhập và hành vi phân bổ nguồn tiền bền bù của nông dân.
Câu hỏi thường gặp
1. Cụm công nghiệp An Khánh I có quy mô bao nhiêu hecta và bao gồm những dự án nào?
Cụm công nghiệp An Khánh I có tổng diện tích quy hoạch chi tiết là 64,6 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 100% với 03 dự án đầu tư: Nhà máy Nhiệt điện An Khánh (chiếm 30,0 ha), Nhà máy Xi măng Quan Triều (chiếm 18,841 ha) và Nhà máy sản xuất vật liệu siêu nhẹ kết hợp cây xanh (chiếm 11,05 ha).
2. Tính đến hết năm 2013, diện tích đất thu hồi và số hộ dân bị ảnh hưởng tại xã An Khánh là bao nhiêu?
Đã có 03 quyết định thu hồi đất với tổng diện tích thu hồi là 295.296 m² của 120 hộ gia đình, cá nhân thuộc 4 xóm: Tân Tiến, Chàm Hồng, Cửa Nghè và Bãi Chè.
3. Vì sao tổng thu nhập bình quân của nhóm hộ mất trên 50% đất lại tăng mạnh sau khi bị thu hồi?
Thu nhập bình quân của nhóm này tăng từ 30.018,61 nghìn đồng lên 51.727,59 nghìn đồng/hộ/năm chủ yếu nhờ khoản lãi tiền gửi tiết kiệm ngân hàng (đạt 24.127,59 nghìn đồng, chiếm 46,64% tổng thu nhập). Các hộ nhận được số tiền bồi thường lớn nhưng chưa tìm được hướng sản xuất mới nên tạm thời gửi ngân hàng lấy lãi hàng tháng.
4. Đa số tiền bồi thường thu hồi đất được các hộ gia đình sử dụng vào mục đích gì?
Đối với nhóm hộ bị thu hồi từ 50% diện tích đất trở lên, mục đích sử dụng tiền đền bù phổ biến nhất là xây dựng lại nhà ở (93,10% số hộ) và gửi tiết kiệm ngân hàng (82,76% số hộ). Chi phí dành cho học tập và đào tạo nghề chuyển đổi sinh kế chỉ có 24,14% số hộ lựa chọn.
5. Đánh giá của người dân địa phương về tác động môi trường của Cụm công nghiệp An Khánh I như thế nào?
Qua điều tra 77 hộ gia đình, có 67,53% số hộ cho rằng môi trường xung quanh xấu đi rõ rệt do chịu tác động của khói bụi, khí thải, tiếng ồn máy móc và tình trạng ô nhiễm, cạn kiệt mạch nước ngầm; 32,47% cho rằng môi trường không đổi và 0% hộ đánh giá môi trường tốt hơn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy đã phản ánh toàn diện tác động hai mặt của quá trình xây dựng Cụm công nghiệp An Khánh I đến cơ cấu sử dụng đất và đời sống cư dân xã An Khánh giai đoạn 2010 – 2013. Mặc dù cụm công nghiệp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và gia tăng thu nhập danh nghĩa của người dân trong ngắn hạn thông qua nguồn tiền bồi thường, việc mất đất nông nghiệp quy mô lớn đã làm thay đổi sinh kế bền vững và gia tăng ô nhiễm môi trường địa phương. Các số liệu điều tra thực địa 77 hộ gia đình là luận cứ xác đáng giúp chính quyền cơ sở nhận diện rõ những rủi ro sinh kế sau giải phóng mặt bằng, từ đó định hình các chính sách đào tạo việc làm và bảo vệ môi trường phù hợp hơn trong giai đoạn tiếp theo.