Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 1996 - 2008 ghi dấu ấn hơn 12 năm xây dựng và định hình của thị trường chứng khoán Việt Nam, kể từ khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước được thành lập ngày 28/11/1996. Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bình quân từ 7% đến 8% mỗi năm. Tốc độ tăng trưởng vượt bậc này đặt ra nhu cầu cấp thiết về việc thiết lập một kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, bên cạnh hệ thống tín dụng ngân hàng truyền thống.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung làm rõ mối quan hệ tương hỗ và tác động thực chất của thị trường chứng khoán tới nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn thử nghiệm và phát triển ban đầu. Mục tiêu cụ thể là phân tích toàn diện vai trò của thị trường chứng khoán trên các phương diện: khơi thông và luân chuyển nguồn vốn nội địa, thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và phản ánh sức khỏe nền kinh tế dưới vai trò phong vũ biểu. Phạm vi nghiên cứu trải dài trong không gian kinh tế Việt Nam với trọng tâm là hai trung tâm giao dịch tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh suốt khung thời gian 1996 - 2008. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc hệ thống hóa hơn 10 chỉ tiêu đo lường tác động kinh tế vĩ mô, cung cấp hệ luận cứ lịch sử kinh tế xác đáng phục vụ công tác hoạch định chính sách tài chính đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai lý thuyết nền tảng trong kinh tế học tài chính hiện đại gồm Lý thuyết phát triển tài chính của Goldsmith, McKinnon và Shaw về mối quan hệ giữa độ sâu tài chính với tăng trưởng kinh tế, cùng Lý thuyết thị trường hiệu quả của Eugene Fama nhằm giải thích cơ chế hình thành giá cả chứng khoán. Mô hình nghiên cứu đặt thị trường chứng khoán trong mối liên hệ cấu trúc hữu cơ với thị trường tiền tệ và thị trường vốn thuộc tổng thể thị trường tài chính quốc gia.

Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm:

  • Thị trường chứng khoán: Thị trường tạo lập và cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế thông qua việc phát hành và mua bán các công cụ tài chính.
  • Cổ phiếu và trái phiếu: Cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu một phần tài sản và thu nhập của công ty cổ phần, trong khi trái phiếu là chứng chỉ nợ quy định nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi định kỳ của tổ chức phát hành.
  • Tính thanh khoản: Khả năng chuyển đổi dễ dàng từ chứng khoán thành tiền mặt với chi phí giao dịch tối thiểu và mức độ trượt giá thấp nhất.
  • Chỉ số thị trường: Thước đo bình quân giá cả chứng khoán niêm yết, đại diện tiêu biểu là chỉ số VN-Index khởi điểm ở mốc 100 điểm.
  • Thị trường sơ cấp và thứ cấp: Thị trường sơ cấp thực hiện chức năng huy động vốn trực tiếp cho tổ chức phát hành, trong khi thị trường thứ cấp đảm bảo tính lưu thông và phân phối lại nguồn vốn giữa các nhà đầu tư.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình được thu thập đồng bộ từ các báo cáo thường niên của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, chuỗi niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, dữ liệu giao dịch chính thức của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn 1996 - 2008. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 300 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn giao dịch và hơn 20 chỉ tiêu kinh tế vĩ mô liên tục qua 12 năm.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn thể dữ liệu lịch sử kết hợp chọn mẫu có chủ đích đối với nhóm 50 doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn đã hoàn thành cổ phần hóa. Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng xuyên suốt kết hợp cùng phương pháp lịch sử và logic học. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đặt sự vận động của thị trường chứng khoán trong mối quan hệ nhân quả khách quan với tiến trình chuyển đổi nền kinh tế, cho phép bóc tách bản chất của các số liệu thống kê qua từng thời kỳ mà các phương pháp phân tích kỹ thuật đơn thuần không thể bao quát hết.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thị trường chứng khoán tạo bước đột phá trong huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế. Quy mô vốn hóa thị trường từ mức khởi điểm khiêm tốn dưới 1% GDP vào năm 2000 đã tăng vọt lên mức đỉnh điểm tương đương 43% GDP vào năm 2007, cung ứng cho khu vực sản xuất kinh doanh hàng trăm nghìn tỷ đồng vốn chủ sở hữu mà không tạo áp lực nợ vay lên hệ thống ngân hàng thương mại.

Thứ hai, thị trường đóng vai trò chất xúc tác mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Trong giai đoạn 2001 - 2008, thị trường đã hỗ trợ chuyển đổi thành công hơn 3.000 doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần. Số liệu ghi nhận hiệu quả hoạt động kinh doanh và năng suất lao động của các doanh nghiệp sau khi niêm yết tăng trưởng trung bình từ 15% đến 25% so với giai đoạn trước cổ phần hóa.

Thứ ba, mở rộng khả năng thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và thúc đẩy hội nhập quốc tế. Kể từ năm 2006 đến năm 2007, dòng vốn FII đổ vào thị trường đạt trên 5 tỷ USD, đưa tỷ lệ sở hữu của khối ngoại chiếm khoảng 20% đến 25% tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường, nâng cao uy tín tài chính quốc gia.

Thứ tư, thị trường chứng minh vai trò phong vũ biểu nhạy bén nhưng bộc lộ tính biến động cực lớn. Chỉ số VN-Index đã lập đỉnh lịch sử 1.170,67 điểm vào tháng 3/2007 trước khi chịu tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, sụt giảm hơn 70% về ngưỡng 315 điểm vào cuối năm 2008, phản ánh chính xác áp lực lạm phát vượt mức 20% của nền kinh tế trong cùng thời kỳ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các thành tựu trên xuất phát từ chủ trương Đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, kết hợp với làn sóng gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2007. Tuy nhiên, sự phát triển nóng cũng bộc lộ những hạn chế cố hữu: tính chất đầu cơ chiếm ưu thế, hiện tượng tâm lý bầy đàn chi phối tới hơn 70% hành vi giao dịch của các cá nhân và sự thiếu đồng bộ của khung pháp lý khi Luật Chứng khoán đến năm 2006 mới được ban hành.

So với các công trình nghiên cứu tài chính cùng thời kỳ, nghiên cứu này làm sáng tỏ quy luật vận động mang tính chu kỳ của thị trường vốn tại một nền kinh tế chuyển đổi. Các dữ liệu lịch sử này có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ đường tương quan giữa chỉ số VN-Index và tốc độ tăng trưởng GDP, kết hợp bảng cân đối tỷ trọng huy động vốn so sánh giữa thị trường chứng khoán với dư nợ tín dụng qua các mốc năm 2000, 2004, 2007 và 2008.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ thể chế và khung pháp lý điều chỉnh thị trường. Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần rà soát, sửa đổi bổ sung các nghị định hướng dẫn Luật Chứng khoán 2006 trong giai đoạn 2009 - 2011, siết chặt quy định về công bố thông tin nhằm kéo giảm tỷ lệ vi phạm thao túng giá xuống dưới 5% tổng số giao dịch nghi vấn.

Thứ hai, điều tiết quan hệ cung cầu và nâng cao chất lượng chứng khoán niêm yết. Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp phối hợp cùng các bộ ngành đẩy nhanh việc gắn cổ phần hóa các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước lớn với đăng ký niêm yết bắt buộc trên sàn giao dịch. Mục tiêu nâng tổng mức vốn hóa toàn thị trường đạt 50% GDP vào năm 2015, thực hiện liên tục từ năm 2010.

Thứ ba, tăng cường năng lực giám sát và thiết lập hệ thống cảnh báo sớm rủi ro thị trường. Hai Sở Giao dịch Chứng khoán cần đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin trong giai đoạn 2010 - 2012, áp dụng chuẩn mực kế toán kiểm toán quốc tế IFRS đối với 100% doanh nghiệp quy mô lớn để nâng cao tính minh bạch.

Thứ tư, tái cơ cấu cấu trúc nhà đầu tư theo hướng chuyên nghiệp hóa. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần ban hành chính sách khuyến khích thành lập tối thiểu 10 quỹ đầu tư mở và công ty quản lý quỹ nội địa giai đoạn 2010 - 2013, từng bước giảm dần tỷ trọng giao dịch của nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ từ mức 80% xuống dưới 60% để gia tăng tính ổn định của thị trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước: Các cán bộ hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước sử dụng số liệu 12 năm của luận văn để đánh giá độ trễ của chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, ứng dụng vào việc xây dựng Đề án phát triển thị trường vốn đến năm 2020.

Nhóm lãnh đạo và quản trị tài chính doanh nghiệp: Ban điều hành tại hơn 1.000 doanh nghiệp đang chuẩn bị chuyển đổi mô hình cổ phần hóa tìm thấy các phân tích thực chứng về định giá cổ phiếu lần đầu IPO, kinh nghiệm thiết lập quan hệ nhà đầu tư và phương thức huy động vốn qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Nhóm định chế tài chính và giới phân tích đầu tư: Các chuyên viên phân tích tại hơn 100 công ty chứng khoán và quỹ đầu tư vận dụng mô hình chu kỳ thị trường 1996 - 2008 để hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro danh mục và nhận diện sớm các dấu hiệu khủng hoảng thanh khoản.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên và sinh viên học thuật: Giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Lịch sử kinh tế, Tài chính - Ngân hàng khai thác cơ sở dữ liệu và phương pháp tiếp cận duy vật biện chứng phục vụ biên soạn tài liệu giảng dạy cùng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được tạo dựng từ mốc thời gian nào? Thị trường chính thức bắt đầu quá trình kiến tạo từ ngày 28/11/1996 khi Chính phủ ký nghị định thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Sau gần 4 năm chuẩn bị về cơ sở vật chất và khung pháp lý thử nghiệm, phiên giao dịch đầu tiên đã diễn ra ngày 28/7/2000 tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh với 2 mã cổ phiếu đầu tiên.

Thị trường chứng khoán tác động thế nào tới tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước? Thị trường đóng vai trò kênh định giá công khai, minh bạch giá trị phần vốn nhà nước thông qua phương thức đấu giá cổ phần công khai. Trong giai đoạn 2001 - 2008, thị trường đã hỗ trợ hơn 3.000 doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công sang công ty cổ phần, nâng cao năng lực quản trị và tạo nguồn thu hàng chục nghìn tỷ đồng cho ngân sách.

Vì sao nói thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế? Chỉ số chứng khoán phản ánh kỳ vọng của giới đầu tư về sức khỏe doanh nghiệp và triển vọng tăng trưởng kinh tế vĩ mô. Giai đoạn 2006 - 2007, khi GDP tăng trưởng trên 8%, chỉ số VN-Index lập đỉnh 1.170,67 điểm. Khi nền kinh tế gặp khó khăn do lạm phát năm 2008, chỉ số lập tức sụt giảm hơn 70%, phản ánh nhạy bén diễn biến kinh tế.

Nguyên nhân chính dẫn tới sự sụt giảm sâu của thị trường chứng khoán trong năm 2008 là gì? Sự sụt giảm bắt nguồn từ sự cộng hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 khiến dòng vốn ngoại rút ròng, kết hợp với các bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước khi lạm phát vượt mốc 20% và Ngân hàng Nhà nước phải thắt chặt tiền tệ, nâng lãi suất cơ bản lên 14% để kiềm chế lạm phát.

Hiện tượng tâm lý bầy đàn thể hiện như thế nào trong giai đoạn 1996 - 2008? Do hơn 80% lực lượng tham gia là nhà đầu tư cá nhân thiếu kiến thức chuyên sâu, thị trường thường xuyên xuất hiện làn sóng mua đuổi khi giá tăng và bán tháo ồ ạt khi giá giảm. Hiện tượng này đẩy định giá nhiều cổ phiếu lên mức P/E trên 40 lần vào đầu năm 2007 trước khi lao dốc mất thanh khoản vào năm 2008.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện chặng đường 12 năm hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2008.
  • Khẳng định vai trò thiết yếu của thị trường trong việc huy động nguồn vốn dài hạn, nâng mức vốn hóa từ dưới 1% lên tới 43% GDP vào năm 2007.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm sâu sắc về quản trị rủi ro, kiểm soát tâm lý bầy đàn và ứng phó với khủng hoảng tài chính chu kỳ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao nhằm hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực giám sát thị trường trong giai đoạn tiếp theo.
  • Cung cấp nguồn tài liệu khoa học lịch sử kinh tế chuẩn mực, mở ra hướng nghiên cứu mở rộng về tái cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam tầm nhìn 2020.