Tổng quan nghiên cứu

Đồng bằng sông Cửu Long là trung tâm sản xuất lúa gạo hàng đầu của Việt Nam, cung ứng hơn 50% sản lượng lúa và đóng góp tới 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với những thách thức to lớn từ biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo các kịch bản dự báo, nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, khoảng 15.000 đến 20.000 km² đất tại đồng bằng sẽ bị ngập trong nước biển và 45% diện tích đất nông nghiệp đứng trước nguy cơ nhiễm mặn nghiêm trọng.

Huyện Gò Công Đông thuộc tỉnh Tiền Giang là địa bàn xung yếu ven biển nằm ở hạ lưu sông Tiền, sở hữu chiều dài bờ biển 32 km. Toàn huyện có 10.858,01 ha đất canh tác lúa, chiếm tới 62,05% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp (17.499,01 ha) và chiếm 41,47% tổng diện tích đất tự nhiên (26.183,32 ha). Hoạt động thâm canh lúa đóng vai trò trụ cột đối với sự ổn định kinh tế và sinh kế của hơn 155.000 cư dân địa phương. Mặc dù vậy, địa hình bằng phẳng và thấp trũng khiến đất lúa nơi đây rất nhạy cảm với triều cường, sạt lở và mặn hóa. Ngay trong điều kiện hiện tại, nếu đê biển bị vỡ do bão kết hợp triều cường, ước tính có khoảng 33,55% diện tích đất huyện bị ngập lụt; khi nước biển dâng 1 mét, tỷ lệ ngập lụt có thể lên tới 82,23% diện tích đất đai hoa màu.

Mục tiêu chính của đề tài là dự báo có cơ sở khoa học về mức độ ngập lụt, mặn hóa tác động đến hệ thống đất canh tác lúa của huyện Gò Công Đông theo các mốc nước biển dâng 12 cm, 17 cm và 75 cm; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình nhằm giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vững.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 1 thị trấn và 17 xã của huyện Gò Công Đông trong giai đoạn từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 11 năm 2012, kế thừa chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn và sử dụng đất từ năm 1993 đến năm 2011. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ định lượng giúp bảo vệ diện tích gieo trồng 33.090 ha lúa hàng năm, giữ vững sản lượng trên 176.000 tấn và tạo tiền đề ổn định đời sống cho 80% lực lượng lao động nông nghiệp địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khung lý thuyết nền tảng trong khoa học môi trường hiện đại:

Thứ nhất, lý thuyết tiếp cận hệ thống (System Approach). Cách tiếp cận này nhìn nhận tài nguyên đất lúa, hệ sinh thái nông nghiệp và con người như một chỉnh thể toàn vẹn có tương tác đa chiều. Mối quan hệ giữa mực nước biển dâng, chế độ thủy văn cửa sông và diễn biến mặn hóa không được xem xét đơn lẻ mà đặt trong tập hợp các biến động sinh thái - kinh tế tổng thể.

Thứ hai, lý thuyết tiếp cận hệ sinh thái (Ecosystem Approach) dựa trên 12 nguyên tắc của Gill Shepherd (2004) cùng quy trình phân tích 5 bước. Lý thuyết này nhấn mạnh việc quản lý tổng hợp đất, nước và tài nguyên sống nhằm đảm bảo cân bằng giữa bảo tồn chức năng dịch vụ sinh thái và phát triển kinh tế nông nghiệp. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp nguyên lý thích ứng khí hậu dựa vào hệ sinh thái (EbA) và quan điểm thích ứng tiệm cận dần theo diễn thế tự nhiên của Nguyễn Ty Niên (2011), nhằm tích lũy hiệu quả đầu tư công trình qua từng giai đoạn.

Nghiên cứu làm rõ các khái niệm then chốt gồm: Biến đổi khí hậu (BĐKH), Nước biển dâng (NBD), Xâm nhập mặn, Hệ thống canh tác lúa và Mức độ thích nghi đất đai. Khung phân tích còn kế thừa mô hình chỉ số rủi ro RCVI (Risk of Climate Vulnerability Index) để lượng hóa sự suy giảm thời đoạn trồng lúa tiềm năng (với chu kỳ chuẩn 110 ngày/vụ). Dữ liệu khoa học toàn cầu của IPCC và quan trắc tại Việt Nam giai đoạn 1993-2008 cho thấy mực nước biển dâng dọc bờ biển nước ta đạt tốc độ trung bình khoảng 3,0 mm/năm theo số liệu vệ tinh, trong đó trạm Vũng Tàu ghi nhận mức tăng 1,83 mm/năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm hệ thống dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Gò Công Đông giai đoạn 2005-2011, bản đồ địa hình số tỷ lệ 1:25.000, số liệu quan trắc độ mặn từ năm 2000 đến năm 2009 tại trạm Vàm Kênh, kết hợp với nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát thực địa năm 2012.

Cỡ mẫu điều tra xã hội học gồm 50 phiếu phỏng vấn chi tiết, trong đó bao gồm 10 phiếu dành cho cán bộ quản lý nông nghiệp, tài nguyên môi trường cấp huyện, xã và 40 phiếu dành cho các hộ nông dân trực tiếp canh tác lúa tại các xã ven biển trọng điểm như Tân Thành, Tân Điền, Kiểng Phước. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao, phản ánh trung thực cả góc độ quản lý chính sách lẫn trải nghiệm canh tác thực tế của người dân.

Phương pháp phân tích chuyên sâu được lựa chọn nhờ tính ưu việt trong mô hình hóa không gian và sinh thái:

  • Mô hình MAGICC/SCENGEN 5.3: Được sử dụng để tính toán và thiết lập các kịch bản nước biển dâng phù hợp với điều kiện Việt Nam và khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
  • Công nghệ GIS (Hệ thông tin địa lý): Ứng dụng để bóc tách các lớp dữ liệu đường bình độ, điểm cao trình từ bản đồ 1:25.000, từ đó mô phỏng chính xác không gian ngập lụt theo 3 kịch bản dâng cao: 12 cm, 17 cm và 75 cm.
  • Mô hình số VISUAL MODFLOW 2.2: Được lựa chọn để phân tích động thái truyền dẫn mặn và mô phỏng sự lan truyền nồng độ muối trong các tầng đất theo không gian và thời gian.
  • Phương pháp ALES-GIS: Dùng để phân hạng mức độ thích nghi của đất đai, xác định sự phù hợp giữa chất lượng đất sau mặn hóa với yêu cầu sinh thái của cây lúa theo tiêu chuẩn Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
  • Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA): Thu thập tri thức bản địa và đánh giá khả năng chuyển đổi sinh kế mùa vụ.

Toàn bộ quy trình thu thập dữ liệu, phân tích mô hình số và khảo sát thực địa được hoàn thiện trong lộ trình 7 tháng, từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 11 năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, luận văn xác định nguy cơ ngập lụt nghiêm trọng đối với diện tích đất lúa theo các kịch bản nước biển dâng. Địa hình huyện có cao trình phổ biến từ 0,8 m và thấp dần về hướng đông nam ra biển chỉ còn 0,4 đến 0,6 m. Khi nước biển dâng ở kịch bản 12 cm và 17 cm, diện tích ngập bắt đầu xuất hiện tại các vùng trũng cục bộ như Tân Điền và Tân Thành. Ở kịch bản nước biển dâng 75 cm, mức độ tổn thương tăng vọt, đe dọa trực tiếp hàng nghìn hecta đất lúa. Đáng chú ý, nếu xảy ra tình huống vỡ đê biển trong điều kiện bão lớn và triều cường, tỷ lệ diện tích bị ngập lụt sẽ tăng từ 33,55% ở hiện trạng lên mức 82,23% khi mực nước dâng 1 mét.

Thứ hai, quá trình xâm nhập mặn diễn biến phức tạp cả về cường độ và thời gian lưu mặn. Số liệu đo đạc tại trạm Vàm Kênh (xã Tân Thành) cho thấy thời gian xâm mặn kéo dài liên tục từ tháng 2 đến tháng 7 hàng năm. Đỉnh mặn cực đại trong 10 năm quan trắc xuất hiện vào tháng 3 năm 2005 lên tới 29,8 g/lít, cao hơn 31,28% so với mức đỉnh 22,7 g/lít vào tháng 4 năm 2000. Kết quả phỏng vấn 50 đối tượng cho thấy có tới 64,0% người dân xác nhận thời gian xâm mặn đang có xu thế kéo dài hơn trước, trong khi chỉ có 16,0% cho rằng thời gian rút ngắn nhờ các công trình ngăn mặn cục bộ.

Thứ ba, sự thu hẹp và suy giảm năng suất của hệ thống đất canh tác lúa. Dự án ngọt hóa Gò Công từ thập niên 1980 đã giúp địa phương chuyển từ 1 vụ lúa mùa bấp bênh sang thâm canh 2 đến 3 vụ, nâng diện tích gieo trồng năm 2011 lên 33.090 ha với năng suất bình quân 53,4 tạ/ha và sản lượng đạt 176.000 tấn. Tuy nhiên, gió mặn và triều cường từ tháng 10 âm lịch năm trước đến tháng 2 âm lịch năm sau thường gây hiện tượng cháy bông lúa, khiến năng suất vụ này giảm xuống chỉ còn khoảng 40,0 tạ/ha, thấp hơn đáng kể so với mức tiềm năng của các vụ chính.

Thứ tư, nhận thức của cộng đồng về biến đổi khí hậu còn phụ thuộc lớn vào phương tiện truyền thông đại chúng. Mặc dù 95,0% người được hỏi đã từng nghe về biến đổi khí hậu và 92,0% tiếp cận thông tin qua Đài truyền hình (Tivi), nhưng tỷ lệ nhận được thông tin tuyên truyền trực tiếp từ chính quyền địa phương chỉ đạt 24,0%, cho thấy công tác truyền thông cơ sở cần được tăng cường mạnh mẽ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ngập lụt và mặn hóa nghiêm trọng bắt nguồn từ vị trí địa lý đặc thù của huyện Gò Công Đông. Địa bàn nằm kẹp giữa các cửa sông lớn là Soài Rạp, cửa Tiểu và cửa Đại thuộc hệ thống sông Tiền, chịu tác động trực tiếp của chế độ bán nhật triều không đều từ Biển Đông. Địa hình nghiêng thoải với nhiều vùng trũng thấp khiến nước mặn dễ dàng thẩm thấu sâu vào nội đồng qua hệ thống rạch Già, rạch Long Uông và rạch Cần Lộc trong mùa khô (tháng 12 đến tháng 4).

Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế của Ngân hàng Thế giới (WB, 2008) và IPCC (2007), kết quả nghiên cứu tại Gò Công Đông hoàn toàn tương đồng với cảnh báo 45% diện tích đất nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm mặn khi nhiệt độ tăng 2°C. Kết quả này cũng củng cố công bố của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), chứng minh rằng nước biển dâng kết hợp nồng độ mặn vượt ngưỡng 4 g/lít và nhiệt độ cao làm giảm năng suất lúa từ 10% đến hơn 40%.

Để phục vụ công tác quy hoạch, các phát hiện nghiên cứu được mô tả trực quan qua hệ thống bản đồ phân vùng ngập lụt và xâm mặn ALES-GIS tỷ lệ 1:25.000 tương ứng 3 mức nước biển dâng 12 cm, 17 cm và 75 cm. Dữ liệu này có thể được trình bày thành các biểu đồ cột so sánh diện tích đất lúa 3 vụ bị thu hẹp để chuyển đổi sang 2 vụ lúa hoặc luân canh lúa - thủy sản, giúp các cấp quản lý dễ dàng nhận diện các khu vực sinh thái nhạy cảm. Nghiên cứu khẳng định giá trị khoa học trong việc làm rõ bức tranh tổn thương tài nguyên đất và chỉ ra sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu cây trồng phù hợp với quy luật tự nhiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chủ động ứng phó với tác động của nước biển dâng và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất lúa, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, xây dựng và nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi, đê bao ngăn mặn:

  • Hành động: Tập trung kiên cố hóa toàn bộ 32 km tuyến đê biển xung yếu và nạo vét, nâng cấp hệ thống cống đập ngăn mặn dọc theo các tuyến rạch Già, rạch Long Uông và cửa Soài Rạp.
  • Chỉ số mục tiêu: Bảo vệ an toàn tuyệt đối cho 10.858,01 ha đất canh tác lúa, kiểm soát độ mặn nước tưới nội đồng luôn duy trì dưới ngưỡng an toàn 1,5 g/lít trong các tháng cao điểm mùa khô.
  • Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2013 - 2020.
  • Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Tiền Giang.

Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và tuyển chọn giống lúa chống chịu:

  • Hành động: Cơ cấu lại lịch xuống giống vụ Đông Xuân sớm hơn để tránh đỉnh hạn mặn tháng 3 và tháng 4; đưa vào khảo nghiệm và nhân rộng các giống lúa chịu mặn (chịu được nồng độ mặn từ 3 đến 4 g/lít) và giống chịu hạn từ Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long và IRRI.
  • Chỉ số mục tiêu: Đảm bảo năng suất lúa bình quân toàn huyện ổn định trên mức 54,0 tạ/ha, giảm thiểu 100% rủi ro thiệt hại do cháy bông do gió mặn cuối năm.
  • Lộ trình thực hiện: Triển khai từ năm 2013, hoàn thiện quy trình canh tác chuẩn vào năm 2017.
  • Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Gò Công Đông phối hợp với Trung tâm Khuyến nông và các Hợp tác xã nông nghiệp.

Thứ ba, phát triển mô hình sinh kế nông - thủy sản kết hợp và bảo tồn rừng ngập mặn:

  • Hành động: Chuyển đổi linh hoạt những diện tích đất lúa trũng thấp thường xuyên bị nhiễm mặn trên 3 tháng tại Tân Thành, Tân Điền sang mô hình luân canh 1 vụ lúa - 1 vụ tôm hoặc trồng rau màu chuyên canh chân ruộng (như dưa hấu, dưa lê hiện đạt 287 ha); đồng thời khoanh nuôi và bảo vệ nghiêm ngặt 590,82 ha rừng phòng hộ ngập mặn ven biển.
  • Chỉ số mục tiêu: Nâng cao giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác đạt từ 80 đến 120 triệu đồng/năm, tăng khả năng chắn sóng và chống xói lở bờ biển lên 90%.
  • Lộ trình thực hiện: Giai đoạn 2015 - 2025.
  • Chủ thể thực hiện: Chi cục Thủy sản, Chi cục Kiểm lâm Tiền Giang kết hợp với Ủy ban nhân dân các xã ven biển và cộng đồng dân cư.

Thứ tư, tăng cường giáo dục truyền thông và năng lực cảnh báo rủi ro thiên tai:

  • Hành động: Đa dạng hóa các kênh truyền thông khí hậu qua đài truyền thanh xã và hệ thống tin nhắn cảnh báo độ mặn tự động; tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật thích ứng cho nông dân.
  • Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ người dân tiếp cận thông tin cảnh báo sớm từ chính quyền từ 24,0% lên trên 85,0%; 100% cán bộ nông nghiệp cơ sở được bồi dưỡng kỹ năng quản lý rủi ro khí hậu.
  • Lộ trình thực hiện: Thực hiện thường niên bắt đầu từ năm 2013.
  • Chủ thể thực hiện: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gò Công Đông phối hợp cùng Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Tiền Giang.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính sau:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang, cùng Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Đông có thể khai thác trực tiếp cơ sở dữ liệu ngập lụt và bản đồ phân vùng mặn hóa tỷ lệ 1:25.000 để cập nhật quy hoạch sử dụng 26.183,32 ha đất tự nhiên, phân bổ nguồn vốn đầu tư công trình thủy lợi và bố trí ngân sách ứng phó thiên tai giai đoạn 2015 - 2030.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Đất đai: Tài liệu cung cấp khung phương pháp luận tiếp cận hệ sinh thái (EbA) chuẩn mực, kết hợp quy trình ứng dụng các phần mềm chuyên ngành như MAGICC/SCENGEN 5.3, VISUAL MODFLOW 2.2 và ALES-GIS. Đây là mô hình nghiên cứu mẫu giúp người đọc phát triển các đề tài đánh giá biến đổi khí hậu tương tự cho 13 tỉnh thành vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ ba, cán bộ khuyến nông cơ sở và ban quản trị các hợp tác xã nông nghiệp: Nắm bắt quy luật xâm nhập mặn cực đại trong các tháng 3 và tháng 4 với độ mặn lên đến 29,8 g/lít để tư vấn thời điểm lấy nước ngọt, hướng dẫn nông dân điều chỉnh thời vụ gieo cấy và ứng dụng các giống lúa chịu mặn thích hợp cho từng tiểu vùng sinh thái.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và ban quản lý dự án phát triển bền vững: Sử dụng các số liệu khảo sát xã hội học và phân tích tổn thương sinh kế để xây dựng các đề xuất dự án tài trợ phát triển nông nghiệp thông minh thích ứng khí hậu (CSA), mô hình sinh kế lúa - màu chân ruộng và các chương trình phục hồi 590,82 ha rừng phòng hộ ven biển.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân nào khiến đất canh tác lúa tại huyện Gò Công Đông dễ bị tổn thương trước nước biển dâng? Huyện sở hữu bờ biển dài 32 km kẹp giữa các cửa sông lớn như Soài Rạp và sông Tiền với cao trình địa hình rất thấp, chỉ từ 0,4 đến 0,8 m. Khi nước biển dâng kết hợp triều cường, nước mặn dễ dàng thẩm thấu sâu vào nội đồng qua hệ thống kênh rạch, gây nguy cơ ngập tới 82,23% diện tích đất đai hoa màu nếu xảy ra vỡ đê biển khi mực nước dâng 1 mét.

Mùa xâm nhập mặn tại địa phương diễn ra vào thời gian nào và mức độ mặn đo được cao nhất là bao nhiêu? Mùa xâm nhập mặn tại Gò Công Đông thường bắt đầu từ tháng 2 và kéo dài đến tháng 7 hàng năm, đạt đỉnh cao nhất vào tháng 3 và tháng 4 do khô hạn kéo dài. Trạm quan trắc Vàm Kênh tại xã Tân Thành từng ghi nhận độ mặn cực đại lên tới 29,8 g/lít vào tháng 3 năm 2005, vượt xa ngưỡng chịu đựng thông thường của cây lúa (dưới 1,5 g/lít).

Luận văn sử dụng những công cụ mô hình số nào để dự báo tác động của nước biển dâng? Tác giả đã tích hợp mô hình MAGICC/SCENGEN 5.3 để thiết lập các kịch bản nước biển dâng 12 cm, 17 cm và 75 cm; phần mềm VISUAL MODFLOW 2.2 để mô phỏng sự dịch chuyển mặn trong đất; và công cụ ALES-GIS trên nền bản đồ số 1:25.000 để phân hạng mức độ thích nghi đất đai của cây lúa theo không gian.

Dự án ngọt hóa Gò Công đã tạo ra bước ngoặt gì cho sản xuất lúa của huyện? Trước thập niên 1980, đất đai nhiễm phèn mặn nặng nên nông dân chỉ canh tác được 1 vụ lúa mùa bấp bênh với năng suất rất thấp. Sau khi hoàn thành hệ thống ngọt hóa Gò Công, toàn bộ 10.858,01 ha đất lúa đã được cải tạo để thâm canh 2 đến 3 vụ/năm, đưa sản lượng năm 2011 đạt 176.000 tấn với năng suất bình quân 53,4 tạ/ha.

Mô hình chuyển đổi sinh kế nào được đánh giá là hiệu quả và thích ứng bền vững nhất? Mô hình chuyển đổi linh hoạt đất lúa kém hiệu quả sang canh tác 1 vụ lúa kết hợp nuôi thủy sản hoặc luân canh cây màu thực phẩm chân ruộng (đã phát triển 493 ha, tiêu biểu là dưa hấu và dưa lê với 287 ha) mang lại giá trị kinh tế cao, kết hợp quản lý bền vững 590,82 ha rừng phòng hộ ven biển nhằm giảm thiểu rủi ro xói lở.

Kết luận

  • Luận văn đã cung cấp bức tranh định lượng toàn diện về hiện trạng 10.858,01 ha đất lúa huyện Gò Công Đông trước thách thức nước biển dâng và mặn hóa.
  • Ứng dụng thành công tổ hợp mô hình MAGICC/SCENGEN 5.3, VISUAL MODFLOW 2.2 và ALES-GIS để mô phỏng chính xác không gian ngập lụt theo 3 kịch bản dâng cao 12 cm, 17 cm và 75 cm.
  • Phân tích chi tiết động thái xâm mặn từ chuỗi dữ liệu trạm Vàm Kênh, ghi nhận đỉnh mặn lịch sử 29,8 g/lít và làm rõ hiện tượng suy giảm năng suất lúa vụ cuối năm xuống còn 40,0 tạ/ha do gió mặn.
  • Thiết lập hệ thống giải pháp công trình đê kè kết hợp phi công trình, nhấn mạnh vai trò của 590,82 ha rừng phòng hộ và mô hình luân canh lúa - màu thích ứng sinh thái.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng giúp đảm bảo an ninh lương thực và ổn định sinh kế cho hơn 155.000 người dân vùng duyên hải tỉnh Tiền Giang.

Công trình là tài liệu khoa học nền tảng phục vụ đắc lực cho việc xây dựng kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu ngành nông nghiệp tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2015 - 2030. Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và nhà khoa học hãy tham khảo, trích dẫn toàn văn công trình nghiên cứu này để triển khai hiệu quả các mô hình thích ứng sinh thái vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp ven biển ngay hôm nay.