Tổng quan nghiên cứu

Vườn Quốc gia Ba Bể có tổng diện tích tự nhiên 10.048 ha cùng vùng đệm rộng 34.200 ha, là không gian sinh tồn của 19.375 nhân khẩu thuộc 5 cộng đồng dân tộc thiểu số, trong đó 2.929 người sinh sống trực tiếp tại phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Thực trạng mâu thuẫn gay gắt giữa mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và nhu cầu sinh kế của cư dân bản địa đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng cho công tác quản trị rừng đặc dụng. Việc hạn chế tiếp cận tài nguyên thiên nhiên làm suy giảm nguồn thu nhập truyền thống, trong khi các mô hình kinh tế thay thế chưa kịp bù đắp khoảng trống thiếu hụt.

Công trình nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán mâu thuẫn này thông qua ba mục tiêu trọng tâm: lượng hóa các hình thức và mức độ tác động của các hộ gia đình dân tộc Tày, Dao, Hmông đến tài nguyên rừng; nhận diện các nguyên nhân kinh tế - xã hội then chốt chi phối hành vi xâm phạm rừng; và xây dựng hệ thống giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực gắn với phát triển sinh kế bền vững. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa tại vùng đệm và vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn, tập trung tại 3 xã đại diện Khang Ninh, Cao Thượng và Nam Mẫu trong giai đoạn năm 2009. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học định lượng, giúp giải quyết bài toán giảm nghèo cho tỷ lệ 59,6% hộ nghèo trong khu vực và cắt giảm ít nhất 35% đến 40% áp lực xâm lấn tài nguyên rừng tự nhiên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên bốn trụ cột lý thuyết nền tảng: Lý thuyết hệ thống sinh thái - xã hội, Tháp sinh thái - nhân văn của Park hoàn thiện qua mô phỏng của Nguyễn Bá Ngãi, Mô hình tứ diện tương tác kinh tế hộ với quản lý tài nguyên của Sunderlin, và Khung quan điểm bảo tồn kết hợp phát triển của Gilmour và Nguyễn Văn Sản. Tháp sinh thái - nhân văn phân định bốn tầng bậc chi phối hành vi cộng đồng gồm bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức văn hóa. Mô hình tứ diện Win-Loss phân tích bốn trạng thái tương tác giữa phát triển kinh tế nông hộ và quản trị rừng, định hướng xây dựng giải pháp theo kịch bản đôi bên cùng có lợi (Win-Win).

Bên cạnh đó, các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Rừng đặc dụng với cấu trúc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 3.846 ha, phân khu phục hồi sinh thái 6.162 ha và phân khu hành chính dịch vụ 40 ha; Sinh kế nông hộ dựa vào rừng; và Năng lực quản trị tài nguyên có sự tham gia của người dân bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Hệ thống dữ liệu của luận văn tích hợp nguồn tài liệu thứ cấp từ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Quyết định 186/2006/QĐ-TTg, Chương trình mục tiêu giảm nghèo 30a cùng số liệu sơ cấp thu thập thực địa trong năm 2009. Cỡ mẫu điều tra được xác định theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp lại với dung lượng 120 hộ gia đình tại 12 thôn thuộc 3 xã trọng điểm, gồm 40 hộ xã Khang Ninh, 40 hộ xã Cao Thượng và 40 hộ xã Nam Mẫu; cơ cấu dân tộc bao gồm 60 hộ người Tày, 29 hộ người Dao và 31 hộ người Hmông, đại diện đầy đủ 4 nhóm phân loại kinh tế từ rất nghèo đến khá.

Phương pháp điều tra thực địa kết hợp bộ công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA, RRA), phỏng vấn bán định hướng, phân tích điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT) và kỹ thuật phân tích 5 nguyên nhân cốt lõi (5Whys). Số liệu được mã hóa và xử lý trên phần mềm thống kê SPSS 13.0 và MS Excel. Luận văn áp dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas dạng tuyến tính hóa logarit nhằm lượng hóa mức độ đóng góp của từng yếu tố nguồn lực vào thu nhập hộ và phân tích hồi quy tương quan để xác định chính xác mức độ phụ thuộc sinh kế của người dân vào tài nguyên rừng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa chỉ ra sáu phương thức tác động chủ yếu của người dân vào lâm phận Vườn Quốc gia Ba Bể với các chỉ số định lượng cụ thể:

  • Khai thác chất đốt sinh hoạt diễn ra với cường độ cao, mức tiêu thụ bình quân đạt 20,3 kg củi/hộ/ngày. Đáng chú ý, các hộ gia đình vùng cao sử dụng tới 26,0 kg củi/ngày, cao hơn 48,5% so với mức 17,5 kg củi/ngày của vùng thấp, trong đó 53,5% khối lượng củi khai thác trực tiếp từ thảm cây bụi tự nhiên và 27,0% từ tầng gỗ nhỏ.
  • Mức độ phụ thuộc kinh tế vào rừng chiếm tỷ trọng đặc biệt lớn trong cơ cấu thu nhập của các hộ vùng lõi, đạt 40,18% tổng thu nhập tại thôn Cốc Tộc và lên tới 50,92% tại thôn Nặm Dài thuộc xã Nam Mẫu.
  • Hoạt động chăn thả gia súc tự do trong rừng diễn ra phổ biến với quy mô đàn lên đến 2.226 con trâu, 1.570 con bò và 1.060 con dê trên toàn địa bàn nghiên cứu, tạo sức ép giẫm đạp và triệt phá thảm thực vật tái sinh.
  • Tỷ lệ đói nghèo phân hóa rõ rệt theo thành phần tộc người, đạt mức 96,0% ở dân tộc Hmông, 85,6% ở dân tộc Dao và 34,0% ở dân tộc Tày, dẫn đến áp lực phá rừng làm nương rẫy tập trung chủ yếu ở các sườn núi cao do đồng bào Hmông canh tác.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến các tác động tiêu cực bắt nguồn từ sự thiếu hụt nghiêm trọng tư liệu sản xuất lúa nước tại chỗ. Diện tích đất lúa của xã Nam Mẫu chỉ có 86,71 ha và xã Cao Thượng có 97,3 ha cho quy mô dân số từ 3.446 đến 3.700 người, buộc người dân phải mở rộng diện tích nương rẫy trên đất dốc để bảo đảm an ninh lương thực. So sánh với các nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (nơi tỷ trọng thu nhập từ rừng vùng lõi chiếm 62,0%) và Vườn quốc gia Ba Vì (thu nhập từ đất rừng chiếm 36,4%), tính chất phụ thuộc tại Ba Bể mang tính sống còn đối với các hộ nghèo nhưng chịu thêm rủi ro do địa hình karst đá vôi dốc đứng dễ bị xói mòn thoái hóa đất.

Các phân tích định lượng trong luận văn được minh họa trực quan qua biểu đồ cơ cấu sử dụng đất với 89,79% diện tích là đất lâm nghiệp, đồ thị hàm hồi quy sản xuất Cobb-Douglas thể hiện hệ số co giãn của biến vốn và đất đai đối với tổng thu nhập, cùng bảng ma trận SWOT đánh giá năng lực kiểm soát của 12 trạm kiểm lâm Vườn Quốc gia.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Thực hiện giao khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh tự nhiên cho 1.924 hộ dân địa phương với định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng bao phủ 100% diện tích phân khu phục hồi sinh thái 6.162 ha, hoàn thành phân kỳ giải ngân trong giai đoạn 2010-2015 do Ban Quản lý Vườn Quốc gia chủ trì phối hợp Hạt Kiểm lâm Ba Bể.
  • Triển khai chương trình hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp thâm canh theo cơ chế Chương trình 30a, đặt mục tiêu nâng cao năng suất 689,4 ha diện tích ngô và đậu tương, phấn đấu hạ tỷ lệ hộ nghèo trung bình 3 xã từ 59,6% xuống dưới 30,0% trong lộ trình 5 năm do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn điều phối.
  • Quy hoạch dứt điểm vùng chăn thả gia súc tập trung và chuyển đổi 150 đến 200 ha đất nương bãi sang trồng cỏ thâm canh, chấm dứt hoàn toàn tình trạng thả rông 3.796 con trâu bò trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 3.846 ha trước năm 2013 do Phòng Nông nghiệp huyện Ba Bể và Ủy ban nhân dân các xã phối hợp thực hiện.
  • Phát triển mạng lưới du lịch sinh thái cộng đồng (homestay) tại xã Nam Mẫu gắn với cảnh quan hồ Ba Bể 506 ha, tổ chức đào tạo nghề phi nông nghiệp cho 500 đến 700 lao động nhàn rỗi nhằm kéo giảm tỷ trọng thu nhập từ khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ xuống dưới 15,0% tổng thu nhập gia đình trước năm 2015.
  • Cung cấp và lắp đặt 1.000 mô hình bếp đun cải tiến tiết kiệm củi cùng hầm khí sinh học biogas, nhằm cắt giảm 45% nhu cầu tiêu thụ 20,3 kg củi/hộ/ngày tại các cụm dân cư vùng cao trong thời hạn 2 năm do Hội Phụ nữ và Huyện đoàn Ba Bể phụ trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc: Cung cấp phương pháp đánh giá định lượng sự phụ thuộc sinh kế của cộng đồng bản địa và mô hình phân tích ma trận tứ diện để hoạch định quy chế quản trị rừng có sự tham gia của người dân.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và phát triển nông thôn: Cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học để xây dựng chính sách giao đất giao rừng, thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và phân bổ nguồn vốn hỗ trợ giảm nghèo thuộc Chương trình 30a tại 61 huyện nghèo cả nước.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng và Kinh tế nông nghiệp: Tham khảo quy trình tích hợp phương pháp kinh tế lượng hàm sản xuất Cobb-Douglas trên nền tảng SPSS với các công cụ nghiên cứu xã hội học nông thôn PRA, RRA, 5Whys.
  • Các tổ chức bảo tồn phi chính phủ và định chế quốc tế: Sử dụng kết quả nghiên cứu làm cứ liệu thiết kế các dự án can thiệp phát triển sinh kế vùng đệm, bảo tồn nguồn gen đa dạng sinh học và đánh giá tác động môi trường tại các khu di sản thiên nhiên.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao người dân địa phương tại Vườn Quốc gia Ba Bể vẫn khai thác tài nguyên rừng dù có quy định ngăn cấm? Tỷ lệ hộ nghèo tại các xã nghiên cứu còn ở mức cao 59,6%, cá biệt dân tộc Hmông nghèo tới 96,0%, trong khi quỹ đất lúa nước bình quân chỉ đạt chưa đầy 0,05 ha/khẩu. Rừng tự nhiên là nguồn cung cấp chất đốt duy nhất với 20,3 kg củi/hộ/ngày và đóng góp từ 40,18% đến 50,92% tổng thu nhập hàng năm của hộ vùng lõi.

  • Những hình thức tác động tiêu cực nào ảnh hưởng lớn nhất đến tài nguyên rừng Vườn Quốc gia Ba Bể? Nghiên cứu xác định sáu hình thức tác động chính: phát rừng làm nương rẫy canh tác ngô lúa, khai thác gỗ làm nhà và buôn bán, thu lượm củi đun, khai thác rau rừng làm thức ăn gia súc, hái lượm lâm sản ngoài gỗ và thả rông hơn 3.790 con trâu bò trong các phân khu rừng.

  • Luận văn áp dụng mô hình toán kinh tế nào để chứng minh mối quan hệ giữa sinh kế và tài nguyên rừng? Tác giả sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas dạng tuyến tính hóa logarit tự nhiên trên tập mẫu 120 hộ gia đình thông qua phần mềm SPSS 13.0. Mô hình ước lượng chính xác hệ số co giãn của các biến nguồn lực đất đai, lao động, vốn đầu tư và biến giả tộc người đối với tổng thu nhập hộ gia đình.

  • Mức độ tác động vào tài nguyên rừng có sự khác nhau như thế nào giữa các nhóm dân tộc? Người Hmông và Dao cư trú ở địa hình núi cao trên 500m thiếu đất lúa nước nên tác động mạnh nhất qua việc phát nương rẫy và tiêu thụ tới 26,0 kg củi/hộ/ngày. Ngược lại, người Tày cư trú vùng thấp ven hồ chủ yếu tác động qua chăn thả gia súc, đánh bắt thủy sản và khai thác gỗ làm nhà sàn.

  • Đâu là giải pháp căn cơ nhất để giải quyết xung đột giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế hộ? Giải pháp cốt lõi là chuyển đổi mô hình quản lý sang hướng Win-Win, bao gồm giao khoán bảo vệ 6.162 ha phân khu phục hồi sinh thái gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng, phát triển du lịch homestay tại hồ Ba Bể 506 ha và chuyển đổi 150 đến 200 ha đất trồng cỏ nuôi nhốt gia súc.

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa toàn diện sáu phương thức tác động bất lợi của cộng đồng địa phương lên 10.048 ha lâm phận Vườn Quốc gia Ba Bể.
  • Xác lập bằng chứng thực nghiệm về mức độ phụ thuộc sinh kế của hộ nghèo vùng lõi vào nguồn lợi rừng, chiếm tỷ trọng từ 40,18% đến 50,92% tổng thu nhập.
  • Ứng dụng thành công mô hình toán kinh tế Cobb-Douglas trên cỡ mẫu 120 hộ gia đình để làm rõ các nhân tố sản xuất chi phối thu nhập nông hộ.
  • Chứng minh mối tương quan sâu sắc giữa điều kiện phân bố tộc người Tày, Dao, Hmông theo độ cao địa hình với cường độ xâm hại tài nguyên rừng.
  • Hoàn thiện hệ thống 11 nhóm giải pháp lâm sinh - kinh tế - xã hội đồng bộ theo mô hình tương tác đôi bên cùng có lợi Win-Win.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học thực chứng và phương pháp luận định lượng quan trọng cho công tác quản trị rừng đặc dụng gắn với xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam. Các bước tiếp theo cần tập trung hoàn thiện chính sách giao khoán rừng và triển khai các dự án phát triển sinh kế vùng đệm trong giai đoạn 2010-2015. Các cơ quan quản lý, nhà khoa học và chuyên gia phát triển hãy khai thác tài liệu nghiên cứu này để áp dụng vào các chương trình bảo tồn tài nguyên thiên nhiên bền vững dựa vào cộng đồng trên toàn quốc.