Chương 1 giới thiệu tổng quan về dự án nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về môi trường tinh thần, hiệu quả công việc và đề nghị mô hình nghiên cứu biểu diễn quan hệ giữa môi trường tinh thần và hiệu quả công việc của nhân viên. Chương 3 giới thiệu phương pháp nghiên cứu sử dụng để kiểm định các thang đo, mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đề ra. Chương 4 trình bày phương pháp phân tích thông tin và kết quả nghiên cứu.
Cuối cùng, chương 5 tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, đóng góp, hàm ý của nghiên cứu cũng như hạn chế của nó để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này này nhằm mục đích giới thiệu cơ sở lý thuyết để xây dựng mô hình lý thuyết. Chương này gồm hai phần chính. Phần đầu giới thiệu cơ sở lý thuyết về môi trường tinh thần, hiệu quả công việc và phương pháp đánh giá hiệu quả công việc, nhân viên văn phòng và hiệu quả công việc của nhân viên văn phòng, các mô hình nghiên cứu tham khảo.
Phần tiếp theo sẽ xây dựng mô hình lý thuyết và các giả thuyết về mối quan hệ giữa các thành phần trong môi trường tinh thần, các biến định tính (độ tuổi, giới tính) và hiệu quả công việc. Môi trường tinh thần 2. Khái niệm Như đã giới thiệu ở chương một, môi trường tinh thần (psychological climate) đã được nhiều nhà nghiên cứu tập trung. Hiện nay có nhiều định nghĩa về môi trường tinh thần.
Theo James LR và Sells SB (1981), môi trường tinh thần đề cập đến những nhận thức và cách giải thích của nhân viên về những giá trị tại nơi làm việc có ý nghĩa đối với họ và những giá trị này góp phần tạo nên môi trường tinh thần. Hay theo Parker et al (2003), môi trường tinh thần được định nghĩa là sự hình dung của cá nhân về những cấu trúc, quy trình, hoạt động của tổ chức có ý nghĩa với họ. Trong nghiên cứu này, dựa theo Armenio Rego và Miguel Pina e Cunha (2008), môi trường tinh thần được đinh nghĩa như là sự nhận thức của các cá nhân về các giá trị, những nguồn lực trong tổ chức giúp nhân viên nuôi dưỡng những mục tiêu cho sự nghiệp, mang lại niềm vui thích, và nhiều cảm hứng cho công việc. Đối với nhân viên, những doanh nghiệp xây dựng tốt môi trường tinh thần thường là chỗ dựa đáng tin cậy, ý nghĩa cho sự phát triển của họ.
Tầm quan trọng của môi trường tinh thần trong việc nghiên cứu hành vi Môi trường tinh thần là khái niệm gắn liền với quá trình nhận thức. Do đó môi trường tinh thần có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu hành vi của cá nhân trong tổ chức. Đơn giản là vì hành vi con người đều dựa trên sự nhận thức của họ về hiện thực, chứ không dựa trên chính bản thân thực tiễn. Thế giới được nhận thức là một thế giới quan 123doc 7 trọng về mặt hành vi.
Con người có xu hướng nhìn thế giới như con người muốn nhận thức về nó. Điều này có nghĩa là chúng ta không thấy thế giới khách quan mà là chúng ta diễn đạt cái mà chúng ta nhận thức về thế giới đó và gọi nó là thực tế. Do đó cái mà một người nhận thức có thể là khác biệt rất lớn với thế giới khách quan. Lý thuyết về môi trường tinh thần cũng chỉ ra rằng các cá nhân khác nhau cùng làm việc trong cùng một tổ chức sẽ có những nhận thức khác nhau về môi trường và thường phản ứng trước tiên đối với những đặc trưng được nhận thức về môi trường hơn là những đặc trưng môi trường vốn có của nó (James LR và Sells SB, 1981).
Sống trong môi trường, con người phải thích nghi với môi trường, song con người không thấy môi trường mà họ chỉ có nhận thức về môi trường (Nguyễn Hữu Lam, 2009). Khái niệm môi trường tinh thần là tồn tại và có thực (Parker CP et al, 2003), tác động quan trọng vào các kết quả đầu ra của cá nhân- individual level outcomes (động lực làm việc, sự thỏa mãn, sự gắn kết, hiệu quả công việc của nhân viên tại nơi làm việc). Điều này cũng có nghĩa rằng nếu các cá nhân có những nhận thức tích cực, lạc quan về môi trường tinh thần hay những nhu cầu tinh thần của họ được thỏa mãn thì họ sẽ có sự thay đổi về mặt hành vi biểu hiện ở việc đầu tư nhiều công sức và thời gian vào công việc của họ hơn, hiệu quả công việc sẽ gia tăng, năng suất của tổ chức từ đó cũng gia tăng theo. Các thuyết làm cơ sở xác định các thành phần trong môi trường tinh thần Môi trường tinh thần bắt nguồn từ tâm lý tổ chức và một số thuyết về động viên giúp xây dựng các thành phần cấu thành môi trường tinh thần.
Trong nghiên cứu này, tác giả trình bày bốn thuyết động viên của Maslow, McClelland, Clayton Alderfer, Frederick Herzberg có nội dung liên quan giúp xác định các thành phần cấu thành môi trường tinh thần. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow Trong hệ thống lý thuyết về quản trị và động viên, thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow là thuyết có được một sự hiểu biết rộng lớn. Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo 123doc 8 một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng. Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: - Những nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác.
- Những nhu cầu về an toàn và an ninh là các nhu cầu như an toàn, không bị đe dọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ. - Những nhu cầu xã hội là các nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, xã hội. - Những nhu cầu tự trọng là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng, địa vị… - Những nhu cầu tự thể hiện là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo và hài hước… Mặc dù không có nhu cầu nào có thể được thỏa mãn hoàn toàn nhưng nếu một nhu cầu về căn bản được thỏa mãn thì sẽ không tạo ra động lực nữa. Do vậy, khi một trong các nhu cầu trên dần được thỏa mãn về cơ bản thì nhu cầu tiếp theo sẽ chiếm vai trò ưu thế.
Các cấp bậc phân cấp sẽ chuyển động theo xu hướng đi lên. Vì vậy, theo Maslow, nếu muốn thúc đẩy ai đó, chúng ta cần hiểu người đó đang ở cấp độ nào của sự phân cấp và tập trung làm thỏa mãn các nhu cầu ở cấp độ đó hay cao hơn. Trong thực tiễn, thang bậc nhu cầu của Maslow có hai cấp thay vì năm cấp, theo đó nhu cầu sinh lý và an toàn được sắp theo thang bậc Maslow (bậc thấp), còn các nhu cầu cao hơn nào đó sẽ xuất hiện kế tiếp thì phụ thuộc vào từng cá nhân. Khi xã hội ngày càng văn minh, hiện đại, những nhu cầu bậc thấp của con người dần dần được thỏa mãn từ bên ngoài.
Các tổ chức doanh nghiệp đang cố gắng đáp ứng tốt việc trả lương một cách công bằng, chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ về hưu, các điều kiện làm việc an toàn cho nhân viên. Hiện nay các nhà quản trị cố gắng dự kiến đặc điểm của mỗi cá nhân, và đưa đến các cơ hội để thỏa mãn các nhu cầu cao hơn đang nổi lên. Các nhu cầu cao hơn thể hiện qua quá trình giao tiếp tham gia làm việc nhóm, các mối tương tác xã hội hay mong muốn nhận được sự chú ý, quan tâm, có địa vị cao để được nhiều người tôn trọng và kính nể, hay được 123doc 9 làm một công việc nào đó theo sở thích. Và những nhu cầu bậc cao đó đều có mục đích chung là làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người.
Cũng từ đó, trong lĩnh vực nhân sự, khái niệm môi trường tinh thần ra đời. Và các doanh nghiệp ngày nay cũng chú trọng hơn vào yếu tố tinh thần khi xây dựng môi trường làm việc của mình nhằm vừa thỏa mãn nhân viên, vừa thúc đẩy tinh thần làm việc của nhân viên. Tiếp nối thuyết của Maslow, các thuyết khác về nhu cầu cũng lần lượt ra đời. Các thuyết này được phát triển và khai thác các nhu cầu bậc cao của con người ở những khía cạnh khác nhau.
Thuyết nhu cầu của McClelland David McClelland cho rằng con người có ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu thành tựu, nhu cầu liên minh, và nhu cầu quyền lực. Nhu cầu thành tựu: người có nhu cầu thành tựu cao là người luôn theo đuổi việc giải quyết công việc tốt hơn. Họ muốn vượt qua các khó khăn, trở ngại. Họ muốn cảm thấy rằng thành công hay thất bại của họ là do kết quả của những hành động của họ.
Điều này có nghĩa là họ thích các công việc mang tính thách thức. Những người có nhu cầu thành tựu cao được động viên làm việc tốt hơn. Người có nhu cầu thành tựu cao là người có lòng mong muốn thực hiện các trách nhiệm cá nhân, xu hướng đặt ra các mục tiêu cao cho chính họ, nhu cầu cao về sự phản hồi cụ thể ngay lập tức, nhanh chóng sớm làm chủ công việc của họ. Nhu cầu liên minh: là giống nhu cầu tình yêu xã hội của A.Maslow- được chấp nhận, tình yêu, bạn bè…Người lao động có nhu cầu liên minh mạnh sẽ làm việc tốt ở những loại công việc mà sự thành công của nó đòi hỏi kỹ năng quan hệ và sự hợp tác.
Những người có nhu cầu liên minh mạnh rất thích những công việc mà qua đó tạo ra sự thân thiện và các quan hệ xã hội. Nhu cầu quyền lực: là nhu cầu kiểm soát và ảnh hưởng môi trường làm việc của người khác, kiểm soát ảnh hưởng tới người khác. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng người có nhu cầu quyền lực mạnh và nhu cầu thành tựu có xu hướng trở thành nhà quản trị. Một số 123doc 10 người còn cho rằng nhà quản trị thành công là người có nhu cầu quyền lực mạnh nhất, kế đến là nhu cầu thành tựu, và sau cùng là nhu cầu liên minh.
Có thể nói thuyết nhu cầu McClelland phát triển, bổ sung thêm các nhu cầu bậc cao dựa trên nền tảng thuyết Maslow.