CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1. Các nghiên cứu nước ngoài Có rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và TTCK. Các nghiên cứu đa số cho thấy mối quan hệ ngược giữa biến động giá dầu và TTCK. Giá dầu tăng ảnh hưởng không tốt đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng tiêu cực.
Từ đó ảnh hưởng đến TSSL của thị trường chứng khoán. Dưới đây là một số nghiên cứu về tác động của giá dầu đến kết quả của TTCK trên thế giới. Driesprong, Jacobsen và Maat (2008) đã nghiên cứu mối quan hệ này thông qua việc lựa chọn dữ liệu theo tháng trên các TTCK bắt đầu từ tháng 10/1973 đến tháng 4/2003. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng dự đoán có ý nghĩa thống kê của lợi nhuận cổ phiếu trước sự thay đổi của giá dầu.
Khả năng dự đoán này đặc biệt mạnh mẽ ở các thị trường phát triển. Lợi tức của cổ phiếu có chiều hướng giảm sau khi giá dầu tăng trong tháng trước và ngược lại. Khả năng dự đoán này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Ngoài ra, kết quả của độ trễ cho thấy các NĐT phản ứng tương đối chậm đối với thông tin mặc dù họ biết biến động giá dầu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của mình.
Miller và Ratti (2009) đã nghiên cứu mối quan hệ dài hạn giữa giá dầu thô thế giới và các TTCK quốc tế thông qua việc kiểm định mô hình VECM có điều kiện với chuỗi dữ liệu từ tháng 1 năm 1971 đến tháng 3 năm 2008. Kết quả chỉ ra sự tồn tại trong mối quan hệ dài hạn giữa các chuỗi dữ liệu đối với 6 quốc gia từ tháng 1/1971 đến 5/1980 và từ tháng 2/1988 đến 9/1999, nó cho thấy rằng trong dài hạn, giá dầu tăng ảnh hưởng tiêu cực tới các chỉ số chứng khoán. Kết quả không cho thấy mối quan hệ nói trên trong giai đoạn từ tháng 6/1980 đến 1/1988. Broadstock và Filis (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa các cú sốc giá dầu và TSSL của thị trường chứng khoán thông qua mô hình Scalar – BEKK.
Nghiên cứu này được kiểm định tại 2 nước Mỹ và Trung Quốc – đại diện cho các quốc gia đã phát triển và đang phát triển trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2013. Hai tác giả 5 cũng tìm thấy mối quan hệ giữa các cú sốc giá dầu và TSSL chứng khoán thay đổi theo thời gian một cách rõ ràng và có hệ thống. TTCK và các ngành chứng khoán sẽ phản ứng khác nhau giữa các cú sốc. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cho thấy TTCK Mỹ phản ứng nhanh hơn với các cú sốc giá dầu so với TTCK Trung Quốc.
TTCK Mỹ luôn phản ứng cùng chiều với các cú sốc tổng cầu, trong khi TTCK Trung Quốc thì ngược lại. Narayan và Sharma (2011) đã kiểm định quan hệ giữa giá dầu và TSSL thị trường chứng khoán trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2008 thông qua mô hình GARCH (1,1), việc kiểm định được thực hiện trên 560 công ty niêm yết trên sàn NYSE. Kết quả cũng tìm thấy quan hệ giữa giá dầu và TSSL thị trường chứng khoán, mức độ tác động phụ thuộc vào nhóm ngành và quy mô của doanh nghiệp. Ngoài ra, kết quả còn chỉ ra độ trễ của các nhóm ngành trước sự thay đổi của giá dầu.
Khi giá dầu thay đổi được 2 ngày, các nhóm ngành phản ứng mạnh nhất bao gồm: Điện, sản xuất, cung ứng, hóa chất, vận tải và dịch vụ chung. Các nhóm ngành như năng lượng, y tế, thực phẩm và khu vực ngân hàng phần lớn là phản ứng sau khi giá dầu thay đổi được 5 ngày.G (2010) đã nghiên cứu để tìm ra mối quan hệ giữa TTCK, giá dầu và chí số kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn ở Hy Lạp. Bài nghiên cứu này được nghiên cứu trong khung thời gian từ tháng 1/1966 đến tháng 6/2008 và kiểm định thông qua mô hình VECM và VAR. Kết quả cho thấy giá dầu và chỉ số giá tiêu dùng_CPI ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK Hy Lạp.
Phân tích các biến theo chu kỳ cho thấy giá dầu có ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK. Ngoài ra, giá dầu có ảnh hưởng tiêu cực đến CPI. Không có mối quan hệ nào được chỉ ra giữa sản lượng công nghiệp và TTCK Hy Lạp. Nghiên cứu của Miramir và Cesario (2019) ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp dầu khí giai đoạn năm 2006 đến năm 2015 tại Châu Âu.
Kết quả cũng chỉ ra sự tồn tại của mối quan hệ giữa dầu mỏ và TTCK Châu Âu và phản ứng khác nhau giữa các nhóm ngành. Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra biến động giữa lợi nhuận và giá dầu của TTCK. Giá dầu thô ảnh hưởng tương đối lớn và tích cực đến kết quả kinh doanh của các công ty dầu khí niêm yết ở Tây Âu. Mặt 6 khác, các công ty này chịu ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008-2009).
Nghiên cứu Narayan P.S (2010) tại TTCK Việt Nam. Hai tác giả đã tìm ra mối quan hệ giữa giá dầu và TSSL thị trường chứng khoán Việt Nam. Thông qua việc kiểm định đồng liên kết Johansen và mô hình VAR, các tác giả đã thực hiện nghiên cứu trong khung thời gian từ năm 2000 đến năm 2008 với số liệu thu thập theo ngày. Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa giá dầu, TSSL thị trường chứng khoán và tỷ giá hối đoái.
Giá dầu và tỷ giá hối đoái có mối quan hệ cùng chiều với TTSL thị trường chứng khoán. Không tìm thấy mối quan hệ ngắn hạn giữa ba nhân tố này. Các nghiên cứu trong nước Mối quan hệ giữa sự biến động trên thị trường dầu thế giới, biểu thị qua giá dầu, với biến động tỷ suất sinh lời thị trường chứng khoán không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thế giới mà còn thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu, nhà chính sách trong nước. Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu còn tương đối hạn chế.
Trần Quốc Thắng (2016) đã nghiên cứu tác động của các cú sốc giá dầu thế giới đến TTCK Việt Nam. Thông qua mô hình định lượng SVAR, tác giả cũng chỉ ra mức độ phản ứng sẽ khác nhau giữa các nhóm ngành, nó phụ thuộc rất lớn vào nguyên nhân của việc giá dầu thế giới thay đổi. Kết quả kiểm định cho thấy các cú sốc của giá dầu thô thế giới tác động khoảng 20% trong sự thay đổi TSSL của TTCK Việt Nam. Các cú sốc cung dầu thì ít quan trọng hơn so với cú sốc tổng cầu nền kinh tế thế giới hoặc cú sốc cầu dự trữ dầu thô khi phần tích những thay đổi trong giá chứng khoán.
Cụ thể, cú sốc cầu dự trữ dầu là nguyên nhân chính làm giảm điểm của TTCK trong bối cảnh rối loạn chính trị tại khu vực Trung Đông. Ngược lại nếu giá dầu tăng là do tổng cầu của nền kinh tế thế giới tăng, điều này sẽ có tác động tích cực đến giá cổ phiếu trong giai đoạn đầu của chu kỳ tăng trưởng và sẽ giảm từ từ trong tương lai. 7 Trần Thị Minh Phương (2013) thông qua mô hình VAR đã nghiên cứu quan hệ giữa giá dầu với TTCK Việt Nam và các biến kinh tế vĩ mô. Số liệu thu thập theo ngày từ ngày 26/07/2005 đến ngày 25/09/2013.
Kết quả kiểm định không tìm thấy mối quan hệ dài hạn giữa giá dầu, TTCK và tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, thông qua mô hình VAR, tác giả đã chỉ ra giá dầu và TTCK có quan hệ cùng chiều, tỷ giá hối đoái và TTCK có quan hệ ngược chiều nhưng mức độ ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái là tương đối thấp. Không tìm thấy quan hệ giữa lãi suất và TTCK trong bài nghiên cứu này. Kết quả phân rã phương sai và hàm phản ứng đẩy cho thấy sự thay đổi của giá chứng khoán chịu ảnh hưởng bởi chính các giá trị của nó trong quá khứ nhiều hơn sự ảnh hương của giá dầu, lãi suất và tý giá hối đoái.
Nguyễn Anh Văn (2015) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và tỷ suất sinh lợi chứng khoán Việt Nam. Bài nghiên cứu được thu thập số liệu theo ngày từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/03/2015 tại 254 công ty niêm yết trên HOSE, kiểm định thông qua mô hình GARCH. Kết quả cho thấy có mối quan hệ giữa biến động giá dầu thế giới và TSSL thị trường chứng khoán niêm yết tại 27 trên tổng số 254 công ty. Ngoài ra, kết quả cũng chỉ ra rằng TTCK sẽ phản ứng mạnh nhất trước sự thay đổi của giá dầu thế giới trước đó 7 ngày.
Bài nghiên cứu cũng đưa ra nhận định sơ bộ rằng mức độ ảnh hưởng sẽ khác nhau, tùy thuộc vào quy mô và ngành nghề của các chứng khoán niêm yết, quy mô tăng thì rủi ro từ những biến động của giá dầu đem lại sẽ càng lớn. Trần Huy Hoàng (2017) đã nghiên cứu ảnh hưởng của giá dầu thế giới đến TTCK Việt Nam và các biến vĩ mô trong nền kinh tế Việt Nam từ quý I/2003 đến quý II/2015. Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên 2 mô hình Tự hồi quy vector (VAR) và Hiệu chỉnh sai số vector (VECM). Kết quả kiểm định cho thấy giá dầu và các chỉ số của TTCK có quan hệ ngược chiều.
Bất kỳ sự thay đổi nào của giá dầu cũng đều ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung của thị trường. Ngoài ra, các biến động giá dầu cũng ảnh hưởng không tốt đến tăng trưởng GDP và là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát, thất nghiệp, đầu tư,… Nói chung biến động giá dầu có ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK và nền kinh tế vĩ mô. 8 Nguyễn Tuyết Hạnh (2015) nghiên cứu ảnh hưởng của cú sốc giá dầu lên lợi nhuận TTCK Việt Nam. Số liệu nghiên cứu từ tháng 01/2005 đến tháng 7/2015 và sử dụng mô hình VAR- SVAR và Scalar-BEKK để kiểm định.
Kết quả từ kiểm định VAR-SVAR với giả định là phương sai sai số không đổi, cú sốc giá dầu có quan hệ cùng chiều với IIP và CPI Việt Nam. Đặc biệt, cú sốc giá dầu thế giới có mối tương quan dương nhưng yếu với TTCK Việt Nam, phần lớn sự thay đổi của TTCK được giải thích bởi chính nó trong quá khứ. Tuy nhiên, khi xem xét cụ thể mối tương quan giữa cú sốc giá dầu khác nhau lên TTCK trong điều kiện phương sai sai số thay đổi, kết quả lại có sự khác biệt.