Nghiên Cứu Biến Động Giữa Giá Dầu Thế Giới Và Tỷ Suất Sinh Lợi Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Biến động giá dầu thế giới và tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán việt nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

100
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

1.1. Các nghiên cứu nước ngoài

1.2. Các nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1. Mối quan hệ giữa giá dầu và biến động TSSL thị trường chứng khoán

2.2. Ảnh hưởng của biến động giá dầu tới nền kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Dữ liệu nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Các bước thực hiện

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng tác động của giá dầu thế giới đến TTCK Việt Nam

4.2. Kiểm định tính dừng

4.3. Xác định độ trễ tối ưu

4.4. Kiểm định tính đồng liên kết

4.5. Mức độ phản ứng của toàn thị trường chứng khoán (VNI) đối với giá dầu

4.6. Kết quả kiểm định VECM

4.7. Kết quả kiểm định VAR

4.8. Mức độ phản ứng của các ngành với giá dầu

4.9. Kết quả ước lượng mô hình VECM (mối quan hệ dài hạn)

4.10. Kết quả ước lượng VAR (mối quan hệ ngắn hạn)

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tác Động Của Giá Dầu Thế Giới Đến Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam

Giá dầu thế giới có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam. Sự biến động của giá dầu không chỉ tác động đến các doanh nghiệp dầu khí mà còn ảnh hưởng đến nhiều ngành khác. Nghiên cứu này sẽ phân tích mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó đưa ra những nhận định và khuyến nghị cho các nhà đầu tư.

1.1. Tác Động Của Giá Dầu Đến Nền Kinh Tế Việt Nam

Giá dầu ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất và giá thành hàng hóa. Khi giá dầu tăng, chi phí vận chuyển và sản xuất cũng tăng theo, dẫn đến lạm phát. Điều này ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng và kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp.

1.2. Mối Quan Hệ Giữa Giá Dầu Và Thị Trường Chứng Khoán

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng giá dầu có mối quan hệ ngược chiều với tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán. Khi giá dầu tăng, các chỉ số chứng khoán thường giảm do lo ngại về chi phí sản xuất tăng và lợi nhuận giảm.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Từ Biến Động Giá Dầu Thế Giới

Biến động giá dầu thế giới gây ra nhiều thách thức cho nền kinh tế Việt Nam. Các doanh nghiệp phải đối mặt với chi phí sản xuất tăng cao, trong khi người tiêu dùng phải chịu áp lực từ giá cả hàng hóa. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán.

2.1. Nguyên Nhân Tăng Giá Dầu Thế Giới

Giá dầu thế giới tăng do nhiều nguyên nhân như căng thẳng địa chính trị, nhu cầu toàn cầu tăng, và các quyết định của OPEC. Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến giá dầu mà còn tác động đến các chỉ số kinh tế vĩ mô.

2.2. Ảnh Hưởng Của Biến Động Giá Dầu Đến Các Ngành Kinh Tế

Các ngành như vận tải, sản xuất và dịch vụ đều bị ảnh hưởng bởi biến động giá dầu. Doanh nghiệp trong các ngành này phải điều chỉnh chiến lược kinh doanh để ứng phó với chi phí tăng cao, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận và giá cổ phiếu.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tác Động Của Giá Dầu Đến Thị Trường Chứng Khoán

Nghiên cứu này sử dụng các mô hình kinh tế lượng để phân tích mối quan hệ giữa giá dầu và thị trường chứng khoán Việt Nam. Các phương pháp như VAR và VECM sẽ được áp dụng để kiểm định tính đồng liên kết và độ trễ giữa các biến.

3.1. Mô Hình VAR Trong Phân Tích Tác Động

Mô hình VAR cho phép phân tích mối quan hệ giữa nhiều biến số kinh tế. Trong nghiên cứu này, mô hình VAR sẽ được sử dụng để kiểm tra tác động của giá dầu đến tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán.

3.2. Mô Hình VECM Để Kiểm Định Tính Đồng Liên Kết

Mô hình VECM sẽ giúp xác định mối quan hệ dài hạn giữa giá dầu và thị trường chứng khoán. Qua đó, nghiên cứu sẽ chỉ ra mức độ ảnh hưởng của giá dầu đến các chỉ số chứng khoán trong thời gian dài.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tác Động Của Giá Dầu Đến Thị Trường Chứng Khoán

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tương quan rõ rệt giữa biến động giá dầu và tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán Việt Nam. Các ngành khác nhau phản ứng khác nhau trước sự thay đổi của giá dầu, cho thấy sự cần thiết phải có các chính sách điều chỉnh phù hợp.

4.1. Mức Độ Phản Ứng Của Thị Trường Chứng Khoán

Thị trường chứng khoán Việt Nam phản ứng mạnh mẽ trước các cú sốc về giá dầu. Các chỉ số chứng khoán thường giảm mạnh khi giá dầu tăng, đặc biệt là trong các ngành nhạy cảm như vận tải và sản xuất.

4.2. Phân Tích Theo Ngành Nghề

Các ngành như dầu khí có xu hướng hưởng lợi từ giá dầu cao, trong khi các ngành khác như tiêu dùng và dịch vụ thường bị ảnh hưởng tiêu cực. Điều này cho thấy sự cần thiết phải phân tích sâu hơn về từng ngành.

V. Kết Luận Và Khuyến Nghị Về Tác Động Của Giá Dầu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng giá dầu thế giới có tác động lớn đến thị trường chứng khoán Việt Nam. Để giảm thiểu tác động tiêu cực, cần có các chính sách điều chỉnh kịp thời và hiệu quả nhằm ổn định thị trường.

5.1. Khuyến Nghị Chính Sách Đối Với Nhà Đầu Tư

Nhà đầu tư cần theo dõi sát sao biến động giá dầu để có những quyết định đầu tư hợp lý. Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư cũng là một chiến lược hiệu quả để giảm thiểu rủi ro.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Cho Chính Phủ

Chính phủ cần có các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong các ngành bị ảnh hưởng nặng nề bởi giá dầu. Việc xây dựng các quỹ dự trữ và chính sách điều chỉnh giá cũng cần được xem xét.

10/07/2025
Biến động giá dầu thế giới và tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1. Các nghiên cứu nước ngoài Có rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và TTCK. Các nghiên cứu đa số cho thấy mối quan hệ ngược giữa biến động giá dầu và TTCK. Giá dầu tăng ảnh hưởng không tốt đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng tiêu cực.

Từ đó ảnh hưởng đến TSSL của thị trường chứng khoán. Dưới đây là một số nghiên cứu về tác động của giá dầu đến kết quả của TTCK trên thế giới. Driesprong, Jacobsen và Maat (2008) đã nghiên cứu mối quan hệ này thông qua việc lựa chọn dữ liệu theo tháng trên các TTCK bắt đầu từ tháng 10/1973 đến tháng 4/2003. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng dự đoán có ý nghĩa thống kê của lợi nhuận cổ phiếu trước sự thay đổi của giá dầu.

Khả năng dự đoán này đặc biệt mạnh mẽ ở các thị trường phát triển. Lợi tức của cổ phiếu có chiều hướng giảm sau khi giá dầu tăng trong tháng trước và ngược lại. Khả năng dự đoán này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Ngoài ra, kết quả của độ trễ cho thấy các NĐT phản ứng tương đối chậm đối với thông tin mặc dù họ biết biến động giá dầu sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của mình.

Miller và Ratti (2009) đã nghiên cứu mối quan hệ dài hạn giữa giá dầu thô thế giới và các TTCK quốc tế thông qua việc kiểm định mô hình VECM có điều kiện với chuỗi dữ liệu từ tháng 1 năm 1971 đến tháng 3 năm 2008. Kết quả chỉ ra sự tồn tại trong mối quan hệ dài hạn giữa các chuỗi dữ liệu đối với 6 quốc gia từ tháng 1/1971 đến 5/1980 và từ tháng 2/1988 đến 9/1999, nó cho thấy rằng trong dài hạn, giá dầu tăng ảnh hưởng tiêu cực tới các chỉ số chứng khoán. Kết quả không cho thấy mối quan hệ nói trên trong giai đoạn từ tháng 6/1980 đến 1/1988. Broadstock và Filis (2014) nghiên cứu mối quan hệ giữa các cú sốc giá dầu và TSSL của thị trường chứng khoán thông qua mô hình Scalar – BEKK.

Nghiên cứu này được kiểm định tại 2 nước Mỹ và Trung Quốc – đại diện cho các quốc gia đã phát triển và đang phát triển trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2013. Hai tác giả 5 cũng tìm thấy mối quan hệ giữa các cú sốc giá dầu và TSSL chứng khoán thay đổi theo thời gian một cách rõ ràng và có hệ thống. TTCK và các ngành chứng khoán sẽ phản ứng khác nhau giữa các cú sốc. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cho thấy TTCK Mỹ phản ứng nhanh hơn với các cú sốc giá dầu so với TTCK Trung Quốc.

TTCK Mỹ luôn phản ứng cùng chiều với các cú sốc tổng cầu, trong khi TTCK Trung Quốc thì ngược lại. Narayan và Sharma (2011) đã kiểm định quan hệ giữa giá dầu và TSSL thị trường chứng khoán trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2008 thông qua mô hình GARCH (1,1), việc kiểm định được thực hiện trên 560 công ty niêm yết trên sàn NYSE. Kết quả cũng tìm thấy quan hệ giữa giá dầu và TSSL thị trường chứng khoán, mức độ tác động phụ thuộc vào nhóm ngành và quy mô của doanh nghiệp. Ngoài ra, kết quả còn chỉ ra độ trễ của các nhóm ngành trước sự thay đổi của giá dầu.

Khi giá dầu thay đổi được 2 ngày, các nhóm ngành phản ứng mạnh nhất bao gồm: Điện, sản xuất, cung ứng, hóa chất, vận tải và dịch vụ chung. Các nhóm ngành như năng lượng, y tế, thực phẩm và khu vực ngân hàng phần lớn là phản ứng sau khi giá dầu thay đổi được 5 ngày.G (2010) đã nghiên cứu để tìm ra mối quan hệ giữa TTCK, giá dầu và chí số kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn ở Hy Lạp. Bài nghiên cứu này được nghiên cứu trong khung thời gian từ tháng 1/1966 đến tháng 6/2008 và kiểm định thông qua mô hình VECM và VAR. Kết quả cho thấy giá dầu và chỉ số giá tiêu dùng_CPI ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK Hy Lạp.

Phân tích các biến theo chu kỳ cho thấy giá dầu có ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK. Ngoài ra, giá dầu có ảnh hưởng tiêu cực đến CPI. Không có mối quan hệ nào được chỉ ra giữa sản lượng công nghiệp và TTCK Hy Lạp. Nghiên cứu của Miramir và Cesario (2019) ảnh hưởng của giá dầu đến thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp dầu khí giai đoạn năm 2006 đến năm 2015 tại Châu Âu.

Kết quả cũng chỉ ra sự tồn tại của mối quan hệ giữa dầu mỏ và TTCK Châu Âu và phản ứng khác nhau giữa các nhóm ngành. Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra biến động giữa lợi nhuận và giá dầu của TTCK. Giá dầu thô ảnh hưởng tương đối lớn và tích cực đến kết quả kinh doanh của các công ty dầu khí niêm yết ở Tây Âu. Mặt 6 khác, các công ty này chịu ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008-2009).

Nghiên cứu Narayan P.S (2010) tại TTCK Việt Nam. Hai tác giả đã tìm ra mối quan hệ giữa giá dầu và TSSL thị trường chứng khoán Việt Nam. Thông qua việc kiểm định đồng liên kết Johansen và mô hình VAR, các tác giả đã thực hiện nghiên cứu trong khung thời gian từ năm 2000 đến năm 2008 với số liệu thu thập theo ngày. Kết quả cho thấy tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa giá dầu, TSSL thị trường chứng khoán và tỷ giá hối đoái.

Giá dầu và tỷ giá hối đoái có mối quan hệ cùng chiều với TTSL thị trường chứng khoán. Không tìm thấy mối quan hệ ngắn hạn giữa ba nhân tố này. Các nghiên cứu trong nước Mối quan hệ giữa sự biến động trên thị trường dầu thế giới, biểu thị qua giá dầu, với biến động tỷ suất sinh lời thị trường chứng khoán không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thế giới mà còn thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu, nhà chính sách trong nước. Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu còn tương đối hạn chế.

Trần Quốc Thắng (2016) đã nghiên cứu tác động của các cú sốc giá dầu thế giới đến TTCK Việt Nam. Thông qua mô hình định lượng SVAR, tác giả cũng chỉ ra mức độ phản ứng sẽ khác nhau giữa các nhóm ngành, nó phụ thuộc rất lớn vào nguyên nhân của việc giá dầu thế giới thay đổi. Kết quả kiểm định cho thấy các cú sốc của giá dầu thô thế giới tác động khoảng 20% trong sự thay đổi TSSL của TTCK Việt Nam. Các cú sốc cung dầu thì ít quan trọng hơn so với cú sốc tổng cầu nền kinh tế thế giới hoặc cú sốc cầu dự trữ dầu thô khi phần tích những thay đổi trong giá chứng khoán.

Cụ thể, cú sốc cầu dự trữ dầu là nguyên nhân chính làm giảm điểm của TTCK trong bối cảnh rối loạn chính trị tại khu vực Trung Đông. Ngược lại nếu giá dầu tăng là do tổng cầu của nền kinh tế thế giới tăng, điều này sẽ có tác động tích cực đến giá cổ phiếu trong giai đoạn đầu của chu kỳ tăng trưởng và sẽ giảm từ từ trong tương lai. 7 Trần Thị Minh Phương (2013) thông qua mô hình VAR đã nghiên cứu quan hệ giữa giá dầu với TTCK Việt Nam và các biến kinh tế vĩ mô. Số liệu thu thập theo ngày từ ngày 26/07/2005 đến ngày 25/09/2013.

Kết quả kiểm định không tìm thấy mối quan hệ dài hạn giữa giá dầu, TTCK và tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, thông qua mô hình VAR, tác giả đã chỉ ra giá dầu và TTCK có quan hệ cùng chiều, tỷ giá hối đoái và TTCK có quan hệ ngược chiều nhưng mức độ ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái là tương đối thấp. Không tìm thấy quan hệ giữa lãi suất và TTCK trong bài nghiên cứu này. Kết quả phân rã phương sai và hàm phản ứng đẩy cho thấy sự thay đổi của giá chứng khoán chịu ảnh hưởng bởi chính các giá trị của nó trong quá khứ nhiều hơn sự ảnh hương của giá dầu, lãi suất và tý giá hối đoái.

Nguyễn Anh Văn (2015) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu thế giới và tỷ suất sinh lợi chứng khoán Việt Nam. Bài nghiên cứu được thu thập số liệu theo ngày từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/03/2015 tại 254 công ty niêm yết trên HOSE, kiểm định thông qua mô hình GARCH. Kết quả cho thấy có mối quan hệ giữa biến động giá dầu thế giới và TSSL thị trường chứng khoán niêm yết tại 27 trên tổng số 254 công ty. Ngoài ra, kết quả cũng chỉ ra rằng TTCK sẽ phản ứng mạnh nhất trước sự thay đổi của giá dầu thế giới trước đó 7 ngày.

Bài nghiên cứu cũng đưa ra nhận định sơ bộ rằng mức độ ảnh hưởng sẽ khác nhau, tùy thuộc vào quy mô và ngành nghề của các chứng khoán niêm yết, quy mô tăng thì rủi ro từ những biến động của giá dầu đem lại sẽ càng lớn. Trần Huy Hoàng (2017) đã nghiên cứu ảnh hưởng của giá dầu thế giới đến TTCK Việt Nam và các biến vĩ mô trong nền kinh tế Việt Nam từ quý I/2003 đến quý II/2015. Bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên 2 mô hình Tự hồi quy vector (VAR) và Hiệu chỉnh sai số vector (VECM). Kết quả kiểm định cho thấy giá dầu và các chỉ số của TTCK có quan hệ ngược chiều.

Bất kỳ sự thay đổi nào của giá dầu cũng đều ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung của thị trường. Ngoài ra, các biến động giá dầu cũng ảnh hưởng không tốt đến tăng trưởng GDP và là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát, thất nghiệp, đầu tư,… Nói chung biến động giá dầu có ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK và nền kinh tế vĩ mô. 8 Nguyễn Tuyết Hạnh (2015) nghiên cứu ảnh hưởng của cú sốc giá dầu lên lợi nhuận TTCK Việt Nam. Số liệu nghiên cứu từ tháng 01/2005 đến tháng 7/2015 và sử dụng mô hình VAR- SVAR và Scalar-BEKK để kiểm định.

Kết quả từ kiểm định VAR-SVAR với giả định là phương sai sai số không đổi, cú sốc giá dầu có quan hệ cùng chiều với IIP và CPI Việt Nam. Đặc biệt, cú sốc giá dầu thế giới có mối tương quan dương nhưng yếu với TTCK Việt Nam, phần lớn sự thay đổi của TTCK được giải thích bởi chính nó trong quá khứ. Tuy nhiên, khi xem xét cụ thể mối tương quan giữa cú sốc giá dầu khác nhau lên TTCK trong điều kiện phương sai sai số thay đổi, kết quả lại có sự khác biệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ