mở đầu các cơ chế kiểm soát chu kỳ tế bào ở cả hai điểm kiểm soát G1/S và G2/M. Vai trò trong việc hình thành khối u Những bất thường trong việc điều hòa chu kỳ tế bào có thể dẫn tới việc hình thành các khối u. Một số gen như các gen ức chế chu kỳ tế bào (RB, P53.) khi bị đột biến có thể khiến tế bào sinh sản không kiểm soát và hình thành khối u (hình 1. Mặc dù chu kỳ tế bào khối u bằng hay dài hơn tế bào bình thường, trong các khối u tỉ lệ tế bào trong trạng thái sẵn sàng phân bào so với các tế bào ở trạng thái pha G0 cao hơn nhiều so với các tế bào bình thường; trong khi đó các tế bào bị chết rụng hay già lão vẫn không thay đổi).
Chính vì thế mà tính tổng cộng thì số tế bào khối u sẽ từ từ tăng dần lên [68]. Những tế bào đang trải qua chu kỳ một cách tích cực là mục tiêu trong các liệu pháp chữa bệnh ung thư vì các DNA của chúng bộc lộ tương đối rõ rệt trong quá trình phân bào và vì vậy chúng dễ bị tổn thương bởi các loại thuốc hay tia bức xạ. Việc này được tận dụng tối đa trong việc điều trị ung thư bởi một phương pháp mang tên là debulking, lúc này một số lớn các tế bào khối u bị loại bỏ và điều này khiến một số lớn tế bào khối u còn trong pha G0 bị chuyển sang pha G1 (do dinh dưỡng, ôxi, nhân tố sinh trưởng,. dồi dào hơn vì các tế bào giảm đi).
Các tế bào này nhanh chóng bị tiêu diệt bởi tia bức xạ hay thuốc ngay khi mới chớm thực thi chu kỳ tế bào [82]. Nhìn chung, các tế bào dễ bị tổn thương nhất vào cuối pha M và vào pha G2, còn sức chống chịu đối với bức xạ cao nhất ở cuối pha S. Đối với những tế bào có chu kỳ dài và pha G1 dài, chúng cũng có sức kháng cự tốt ở cuối pha G1. Kiểu đề Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 kháng này liên quan đến mức độ các hợp chất sulfhydryl trong tế bào.
Sulfhydryl có tác dụng kháng bức xạ và có mức độ cao nhất ở pha S và thấp nhất ở gần pha nguyên phân. Những sự khác biệt này chủ yếu do khác biệt về thời gian ở pha G1, còn các pha M và S thì ít thay đổi. Cơ chế phân chia của tế bào ung thư [45] 1. Các gen kiểm soát chu kỳ tế bào P21 có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào, vì đột biến gen của P21 dẫn đến tăng khả năng hình thành khối u.
Tuy nhiên, mất P27 dẫn đến một kiểu hình rõ rệt hơn và bằng chứng mạnh mẽ cho thấy rằng P27 thực sự dẫn đến tăng tỷ lệ mắc một số bệnh ung thư. P21 đóng vai trò là tác nhân chính của nhiều con đường ức chế khối u để thúc đẩy các hoạt động chống tăng sinh độc lập với con đường ức chế khối u P53. Nhưng trong các nghiên cứu gần đây cho thấy, trong một số điều kiện nhất định, P21 có thể thúc đẩy sự tăng sinh tế bào và gây ung thư. Do đó, P21 có thể hoạt động như một chất ức chế khối u hoặc là một gen gây ung thư [72].
P21 là chất ức chế quá trình tái bản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 DNA và ức chế các cyclin-dependent kinases từ đó khiến cho tế bào rơi vào trạng thái dừng chu kỳ tế bào. Ở nhiều dòng tế bào ung thư sự biểu hiện tăng cường P21 thúc đẩy tế bào đi vào trạng thái nghỉ vĩnh viễn như một tế bào trải qua quá trình lão hóa [31]. CCNE1 là gen mã hóa cho protein Cyclin-E1 đặc hiệu G1/S [46]. Protein được mã hóa bởi gen này thuộc họ cyclin, được đặc trưng bởi tính tuần hoàn mạnh mẽ của sự phong phú protein trong chu kỳ tế bào.
Cyclins có chức năng điều tiết CDK(Cyclin-dependent kinases). Cyclin này tạo thành một phức hợp có chức năng như một tiểu đơn vị điều tiết của CDK2, có hoạt động cần thiết cho quá trình chuyển đổi G1/S của chu kỳ tế bào. Protein này tích lũy ở ranh giới pha G1-S và bị suy giảm khi các tế bào tiến triển qua pha S. Sự biểu hiện quá mức của gen này đã được quan sát thấy ở nhiều khối u, dẫn đến mất ổn định nhiễm sắc thể, và do đó có thể góp phần gây ra khối u.
Năm 2019, Chao Zhang và cộng sự đã chứng minh rằng CCNE1 (cyclin E) được coi là có liên quan đến sự phát triển của các loại khối u khác nhau, và nó có vai trò quan trọng trong ung thư biểu mô dạ dày (GC). Họ đã kiểm tra biểu hiện của CCNE1 trong các tế bào GES-1 niêm mạc dạ dày và năm dòng tế bào GC. CCNE1 đã được sử dụng để đánh giá hiệu quả của nó đối với sự tăng sinh và chu kỳ tế bào trong các tế bào MGC-803 và NCI-N87. Kết quả cho thấy sự điều chỉnh tăng CCNE1 chủ yếu được thể hiện trong các mô tế bào và các dòng tế bào GC, cũng liên quan đến giai đoạn di căn hạch (TNM) và xâm lấn bạch huyết [25].
Trong các tế bào ung thư buồng trứng, biểu hiện CCNE1 kích thích tăng sinh tế bào và tăng sự hình thành khuẩn lạc. Sự biểu hiện quá mức CCNE1 liên quan đến khuếch đại gen CCNE1 có liên quan đến sự phát triển của kháng hóa chất trong ung thư buồng trứng. Vì các khối u buồng trứng có mức CCNE1 tăng cao thường biểu hiện biểu hiện Cdk2 cao hơn và hầu hết các tác dụng thúc đẩy khối u liên quan đến CCNE1 cần có sự tham gia của Cdk2 [47]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 P27 được coi là một chất ức chế khối u vì chức năng của nó như là một bộ điều chỉnh chu kỳ tế bào.
Trong các bệnh ung thư, nó thường bị bất hoạt thông qua quá trình tổng hợp bị suy yếu, suy thoái cấp tốc hoặc sai lệch vị trí. Những hành động này để tăng tốc độ phân giải protein P27 và cho phép tế bào ung thư trải qua quá trình phân chia nhanh chóng và tăng sinh không kiểm soát [23]. Trong hầu hết các bệnh ung thư, mức độ hạt nhân P27 giảm có liên quan đến việc tăng kích thước khối u, tăng khối u và xu hướng di căn cao hơn [64]. P27 là một phân tử phức tạp, có nhiều chức năng được điều hòa thông qua rất nhiều tương tác protein và sửa đổi sau dịch mã.
Một số nghiên cứu đã phân loại P27 như một chất ức chế khối u giả định: (1) nó hoạt động như một bộ điều chỉnh tiêu cực của chu kỳ tế bào; (2) sự biểu hiện quá mức của nó ngăn chặn sự phát triển của tế bào trong một số loại tế bào. Tuy nhiên, P27 là một chất ức chế khối u không điển hình vì trái ngược với các thuốc ức chế khối u nổi tiếng khác như P53 và RB1, nó không bị đột biến trong ung thư ở người [64]. Gennaro và cộng sự cũng đã nghiên cứu về khả năng kiểm soát CCND1 bởi tiểu đơn vị SAGA xúc tác USP22 (Ubiquitin specific peptidase 22) là điều cần thiết cho sự phát triển chu kỳ tế bào thông qua G1 trong các tế bào ung thư. CCND1 là chất ức chế cyclin.
Họ đã chứng minh rằng kiểm soát CCND1 là một cơ chế chính mà USP22 làm trung gian trong tiến trình chu kỳ tế bào. Về mặt chức năng, sự biểu hiện quá mức này của USP22 góp phần tích cực vào sự hình thành khối u, vì sự suy giảm USP22 ngăn chặn sự tiến triển của chu trình tế bào ung thư trong ống nghiệm và ức chế sự tiến triển của khối u trong các mô hình động vật của phổi, vú, bàng quang, buồng trứng và ung thư gan. USP22 và CCND1 tương quan trong các mẫu ung thư phổi và ung thư đại trực tràng của bệnh nhân và các nghiên cứu tiền lâm sàng của chúng tôi chỉ ra rằng việc nhắm mục tiêu USP22 kết hợp với các thuốc ức chế CDK có thể đưa ra cách tiếp cận để điều trị bệnh nhân ung thư có khối u biểu hiện CCND1 tăng [77]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 Kháng nguyên nhân tế bào tăng sinh PCNA (Proliferating cell nuclear antigen), là một protein phụ cho DNA polymerase delta điều chỉnh sự sao chép và sửa chữa DNA, đã được báo cáo là đóng một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quá trình apoptosis.
Liu XH và cộng sự đã chỉ ra rằng, GSK3β đã tương tác với PCNA trong các tế bào ung thư biểu mô tuyến H1299. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, sự tương tác của chúng có thể được tăng cường trong vòng 3 giờ đầu sau khi chiếu xạ UVC và giảm dần theo thời gian. Sự biểu hiện quá mức của protein PCNA làm giảm quá trình phosphoryl hóa GSK3β Ser9, trong khi đó, việc giảm PCNA bằng cách sử dụng RNA can thiệp nhỏ (siRNA) đã làm tăng sự ức chế phosphorylated GSK3 Ser, bị ức chế bởi phosphatidylinositol 3-kinase (PI3K) [48]. Giới thiệu chung về cây Lá khôi 1.
Phân loại và đặc điểm Họ Đơn nem (Myrsinaceae) là một họ thực vật khá lớn, bao gồm 50 chi và khoảng 1.400 loài, được phân bố rộng rãi trên thế giới, nhất là ở các nước có khí hậu ôn đới và nhiệt đới. Trong đó, chi Cơm nguội (Ardisia) có khoảng 400-500 loài [18]. Trên thế giới chi Ardisia là một chi lớn thuộc họ Myrsinaceae, có khoảng 500 loài, phân bố phần lớn ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, châu Á, số ít ở châu Úc và các đảo ở Thái Bình Dương. Ở Việt Nam chi Ardisia có khoảng 101 loài.
Dạng sống chủ yếu của các loài thuộc chi này là cây gỗ nhỏ, cây bụi hoặc nửa bụi gần với dạng cây thân thảo [9]. Cây Lá khôi thuộc chi Ardisia hay còn gọi là Lài sơn, cây Lá khôi có tên khoa học là Ardisia gigantifolia Stapf. Trong cuốn “Thực vật chí Việt Nam” của Trần Thị Kim Liên, tập 4 (trang 173) có mô tả như sau: Cây Lá khôi là cây bụi lớn hoặc nửa bụi, cao khoảng 1-2(3) m, có thân rễ bò dày, phần thân đứng thẳng có đường kính khoảng 1cm, thường không phân cành, không có lông, trừ thân rất non có lông mềm thưa.