CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Một số khái niệm - Tiêu chí (Criterion): Theo [25] thì tiêu chí chính là tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm. Theo từ điển Oxford thì tiêu chí (criterion) là một tiêu chuẩn hay nguyên tắc theo đó một cái gì đó được đánh giá, hoặc với sự giúp đỡ của một quyết định được thực hiện.
Như vậy, tiêu chí chính là “Các yếu tố dùng để đo lường hoặc kiểm tra, giám sát một sự vật, hiện tượng theo các mức độ yêu cầu cần đạt được ở một khía cạnh cụ thể của chất lượng. Mỗi tiêu chí là tập hợp danh mục các tiểu mục cần kiểm tra, đo lường, giám sát về việc tuân thủ hoặc không tuân thủ; đáp ứng hoặc không đáp ứng; đạt hoặc không đạt. - Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý. Một chính sách là một tuyên bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức.
Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức. Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan. Các chính sách hỗ trợ trong việc ra quyết định chủ quan thường hỗ trợ quản lý cấp cao với các quyết định phải dựa trên thành tích tương đối của một số yếu tố và do đó thường khó kiểm tra khách quan, ví dụ: chính sách cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Các chính sách tương phản để hỗ trợ việc ra quyết định khách quan thường hoạt động trong tự nhiên và có thể được kiểm tra khách quan [59].
Cấu trúc của chính sách: đường lối cụ thể (nhằm thực hiện đường lối chung), biện pháp, kế hoạch thực hiện. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, vấn đề được đề cập là chính sách công - là một công cụ quan trọng của quản lý nhà nước. Thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu của Nhà nước được hiện thực hóa. Mỗi chính sách vận động theo một quy trình, bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: hoạch định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách.
- Biến đổi khí hậu [4]: “BĐKH là sự thay đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc sự giao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường vài thập kỷ hoặc dài hơn”. BĐKH thể hiện ở nhiều hình thái khác 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhau nhưng đặc điểm chung là sự thay đổi của BĐKH so với trạng thái tương đối ổn định trước đó theo một xu thế nào đó. Các biểu hiện cụ thể của BĐKH bao gồm: nhiệt độ tăng, thay đổi độ ẩm, lượng mưa, nước biển dâng cao và các hiện tượng thời tiết cực đoan diễn ra thường xuyên hơn, với cường độ mạnh hơn. - Lồng ghép BĐKH [4]: “Lồng ghép BĐKH là sự cân nhắc đưa các vấn đề về BĐKH vào quá trình hoạch định và thực thi các chính sách phát triển, đặc biệt là chính sách phát triển KT-XH tại địa phương.
Mục đích của việc lồng ghép nhằm đảm bảo tính bền vững của các chính sách phát triển KT-XH các cấp trước tác động của BĐKH”. Lồng ghép BĐKH thường được thực hiện thông qua i) các chính sách phát triển gồm quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH và quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, trong đó có ngành nông nghiệp; ii) các chương trình, dự án, hoạt động và iii) các công cụ đảm bảo lồng ghép (chỉ tiêu, ngân sách…). Lồng ghép BĐKH là các biện pháp ứng phó với BĐKH có ý nghĩa lớn nhằm bảo đảm tính PTBV trong việc hoạch định và thực thi kế hoạch. Việc lồng ghép BĐKH phải được thực hiện qua sự phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực và có sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức, ban ngành liên quan, kể cả việc rà soát các thể chế, chính sách hiện tại có phù hợp với sự phát triển KT-XH dưới điều kiện có BĐKH trong tương lai hay không.
Mục tiêu của việc lồng ghép là sự kết hợp các biện pháp ứng phó với BĐKH và các kế hoạch hành động cụ thể như là một phần của chiến lược giảm nhẹ tổn thương do thiên tai và BĐKH, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cũng như cải thiện sinh kế và nâng cao mức sống của người dân [3]. - Chuyển đổi cơ cấu kinh tế (CĐCCKT): Khái niệm CĐCCKT là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích luỹ của vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm. Trên thực tiễn khái niệm CĐCCKT được sử dụng khá đồng nghĩa với “chuyển dịch cơ cấu kinh tế” và đều phản ánh bản chất vấn đề là chỉ sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế. Như vậy, CĐCCKT chính là quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển [44].
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Phát triển bền vững (PTBV): Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức tại Rio de Janeiro đề ra Chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó, PTBV được xác định là. “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai” [2]. Trước đây PTBV đề cập đến cùng lúc là sự phát triển của 3 trụ cột là KT-XH và môi trường. Tuy nhiên, sau khi các mục tiêu PTBV mới được thống nhất tại Liên Hợp Quốc, 17 mục tiêu PTBV được phê duyệt chi tiết và cụ thể, phản ánh tích hợp tất cả các khía cạnh liên quan đến PTBV.
Tổng quan nghiên cứu về chuyển đổi cơ cấu kinh tế ứng phó với biến đổi khí hậu 1. Chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế a. Các quan điểm về CĐCCKT - Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế kèm theo những thay đổi về phân phối sản lượng và cơ cấu kinh tế [57]. Về cơ bản phát triển kinh tế bao gồm ba nội dung cơ bản lần lượt là: (1) tăng tổng sản phẩm quốc dân và thu nhập quốc dân tính theo đầu người trong một giai đoạn nào đó; (2) sự CĐCCKT theo hướng tích cực; (3) tăng thu nhập thực tế, phân phối đồng đều hơn, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống.
Mục tiêu của tất cả các quốc gia, địa phương, vùng lãnh thổ không chỉ tập trung vào phát triển kinh tế mà cơ bản hơn là phát triển kinh tế bền vững. Như vậy, CĐCCKT là một nội dung của phát triển kinh tế [57]. Các Mác là học giả đầu tiên phân tích CCKT và CĐCCKT trong lịch sử. Ông phân tích CĐCCKT thông qua những thay đổi tương quan giữa phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của các hình thái tái sản xuất xã hội (bao gồm cả tái sản xuất đơn và tái sản xuất mở rộng).
Ông cho rằng CĐCCKT là sự thay đổi của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển. Sự CĐCCKT hợp lý là sự chuyển đổi sang một cơ cấu kinh tế có khả năng tái sản xuất mở rộng cao, phản ánh được năng lực khai thác, sử dụng các nguồn lực phù hợp với các quy luật, xu hướng của thời đại, trong đó con người là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên [45]. - Có nhiều quan điểm khác nhau về cơ cấu kinh tế như: (1) “Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác động qua lại lẫn nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện KT-XH nhất định; nó được thể hiện cả về mặt định tính và định lượng, cả về chất lượng và số lượng, phù hợp với những mục tiêu được xác định của nền kinh tế” [29]; (2) Tác giả Vũ Ngọc Phùng cho rằng “là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lai cả về số và chất lượng giữa các ngành với nhau [26]. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện xã hội nhất đinh, luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể [29].
- Ba tiêu thức đánh giá phát triển, cơ cấu kinh tế được xem là tiêu thức phản ánh sự thay đổi về chất, là dấu hiệu đánh giá, so sánh các giai đoạn của nền kinh tế [26]. Cơ cấu kinh tế được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau như: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu khu vực thể chế… Trong đó, cơ cấu ngành là quan trọng nhất vì nó phản ánh sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tác giả Vũ Ngọc Phùng cũng chỉ ra rằng cơ cấu kinh tế là một phạm trù động, nó luôn luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố định. Quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển được gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành mà còn bao gồm sự thay đổi về vị trí, tính chất và mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có và nội dung của sự chuyển dịch là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của sản phẩm quốc dân (GNP), bao gồm sự tích luỹ của vốn vật chất và con người, sự thay đổi về nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm [26]. Ngoài ra còn các quá trình KT-XH kèm theo như đô thị hoá, biến động dân số, thay đổi trong việc thu nhập [44].