Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ Khu vực nghiên cứu nằm trong khoảng 9030’ đến 10000’ vĩ độ Bắc và 106000’ đến 106040’ kinh độ Đông, bao trọn gần như toàn bộ diện tích đất liền tỉnh Trà Vinh.Vị trí khu vực nghiên cứu 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1. Khí hậu, khí tượng Khu vực nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cận xích đạo bị tác động mạnh mẽ của gió Đông Nam từ biển thổi vào.
Chế độ mưa, bão: Khu vực có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 với hướng gió chủ đạo là hướng gió 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mùa Tây Nam đến Tây Tây Nam, chiếm khoảng 89% lượng mưa cả năm và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với hướng gió chủ đạo là Bắc đến Đông Bắc, chiếm khoảng 11% lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 mm và tập trung vào hai thời kỳ, thời kỳ thứ nhất xuất hiện vào tháng 6 hoặc tháng 7, lượng mưa tháng xấp xỉ 200mm, thời kỳ thứ hai xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 lượng mưa tháng trên dưới 250mm. Diễn biến chế độ mưa trong năm như sau: Thời kỳ mùa mưa thật sự (đầu tháng 6 đến cuối tháng 10).
Thời kỳ chuyển tiếp mùa mưa sang mùa khô (cuối tháng 10 đến cuối tháng 11). Thời kỳ mùa khô thật sự (đầu tháng 12 đến cuối tháng 4 năm sau). Thời kỳ chuyển tiếp mùa khô sang mùa mưa (đầu tháng 5 đến đầu tháng 6). Chế độ mưa như trên đã gây khó khăn không ít cho nghề trồng trọt: vào mùa khô, vùng bị xâm nhập mặn, độ chua mặn lấn sâu vào nội địa dẫn đến hạn chế khả năng trồng cây và tăng vụ, ngược lại vào mùa mưa ở đây thường bị nước ở thượng nguồn sông Mê Kông dồn về gây ra nạn ngập úng nghiêm trọng trên diện rộng.
Chế độ nắng Do ở vĩ độ thấp nên vùng tiếp nhận được lượng ánh nắng dồi dào, độ dài ban ngày lớn, bức xạ và nhiệt độ cao, thích hợp cho sự phát triển của cây trồng. Tổng số giờ nắng trong năm đạt trên dưới 2. Trong mùa khô, số giờ nắng trung bình mỗi ngày đạt từ 8 – 9 giờ. Tháng mùa mưa trung bình từ 5 – 7 giờ trong ngày.
Chế độ gió Chế độ gió ở đây được phân làm 2 mùa rõ rệt: Gió mùa Tây Nam hình thành từ Nam Ấn Độ Dương vượt qua xích đạo, tác động đến các tỉnh phía Nam Việt Nam, mang đặc tính nóng ẩm, gây mưa lớn, chiếm khoảng 90% lượng mưa trong năm của tỉnh. Gió mùa Tây Nam hoạt động bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 9, mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 8. Tốc độ gió trung bình đạt 1–1,2 m/s, riêng vùng biển tốc độ gió đạt 2 – 3,9 m/s. Tốc độ tối đa của gió đạt 10 – 18 m/s, vùng biển 12 – 20 m/s.
Gió mùa Đông Bắc, còn gọi là gió chướng, xuất hiện vào cuối tháng 10 và 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kết thúc vào cuối tháng 4 tới trung tuần tháng 5 năm sau. Khả năng xuất hiện gió chướng tăng dần từ đầu mùa (tháng 12) và đạt cực đại vào tháng 2 hoặc 3, sau đó giảm dần. Đặc điểm của gió chướng là phát triển theo từng đợt. Mỗi đợt từ khi phát triển cho đến lúc yếu khoảng từ 4 đến 6 ngày.
Gió chướng có đặc tính khô hanh, gây ra hiện tượng khô nóng kéo dài, làm gia tăng tác động của thủy triều, khiến mặn xâm nhập sâu vào nội địa, gây thiệt hại đê biển, ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất. Độ ẩm Do gần biển và có hệ thống sông ngòi chằng chịt, nên độ ẩm tương đối tại khu vực nghiên cứu nhìn chung khá cao, trung bình từ 76 – 86%, các huyện ven biển có độ ẩm tương đối từ 83 – 91%, sự chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít nhất khoảng 15%. Vào mùa khô độ ẩm của tỉnh vào khoảng 73 – 79%, riêng vùng ven biển khoảng 79 - 84%. Vào mùa mưa, độ ẩm khoảng 83 – 86%, ven biển từ 85 - 91%.
Nhiệt độ Nhiệt độ của khu vực này tương đối cao, nhiệt độ bình quân hàng năm khoảng từ 26 - 27oC/năm. Tháng nóng nhất: tháng 4 (khoảng 28,9oC), tháng 5 (khoảng 29,2oC). Tháng mát nhất: tháng 12, tháng 1, tháng 2 (khoảng 25 - 26oC). Trong năm, không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 20oC.
Trong ngày, nhiệt độ cao nhất xảy ra lúc quá trưa, cao nhất tuyệt đối khoảng 36oC và thấp nhất xảy ra lúc gần sáng, thấp nhất tuyệt đối khoảng 18,1oC. Độ bốc hơi Vào mùa khô nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi mạnh, bình quân từ 4 – 6 mm/ngày đêm. Vào mùa mưa độ bốc hơi giảm đi rõ rệt còn khoảng 2,5 – 3,5 mm/ngày đêm. Riêng tháng 9 có độ bốc hơi nhỏ nhất đạt 2 - 3 mm trong một ngày đêm.
Bức xạ Lượng bức xạ ở khu vực lớn và ổn định. Lượng bức xạ tổng cộng trung bình ngày lớn nhất vào tháng 3 (548 calo/cm2/ngày) và nhỏ nhất vào tháng 9 (397 calo/cm2/ngày). 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm thủy văn Mạng lưới sông suối: vùng nghiên cứu có 2 cửa sông là nhánh của sông Tiền đổ ra: cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu và 1 nhánh của sông Hậu: cửa Định An.
Trong vùng mạng lưới sông, kênh, rạch phát triển mạnh mẽ, mật độ mạng lưới thuộc vào loại lớn nhất trên lãnh thổ nước ta, dao động từ 2 đến 4km/km2. Chế độ dòng chảy: Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng mạnh của nhiều yếu tố tác động: dòng chảy sông Tiền, sông Hậu, thủy triều biển Đông, thủy triều phía Tây Nam-vịnh Thái Lan và chế độ mưa ở đồng bằng. Nguồn nước chảy về sông Cửu Long là khá lớn, hằng năm có khoảng 422 tỷ m3 nước từ thượng nguồn cộng với lượng nước mưa trung bình năm cung cấp cho sông Cửu Long khoảng 67 tỷ m3. Tổng lượng nước hằng năm ở đồng bằng sông Cửu Long khoảng 500 tỷ m3.
Dòng chảy sông Cửu Long có hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa cạn. Ở thượng lưu, mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11, mùa cạn bắt đầu từ tháng 12 và kết thúc vào tháng 5. Có sự tương phản sâu sắc giữa mùa lũ và mùa cạn, lưu lượng giữa tháng lớn nhất và tháng nhỏ nhất vẫn chênh lệch rất lớn. Vào mùa lũ, lưu lượng tăng cao đột ngột và đạt trung bình từ 20.000m3/s, trong đó vào mùa khô lưu lượng giảm nhỏ và chỉ còn khoảng 2.000m3/s, bằng 10 - 20% lưu lượng các tháng mùa lũ.
Đặc điểm hải văn Chế độ thủy triều: Vùng nghiên cứu có chế độ bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày trong tháng có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống với chênh lệch rõ rệt giữa các độ cao nước ròng. Độ lớn triều trong vùng khoảng 3-4 m trong kỳ nước cường và 1,5-2m vào kỳ nước kém. Tốc độ thủy triều ở khu vực này lên xuống khá nhanh, có thể đạt 0,5-0,6 m/giờ.
Tại các cửa sông lớn trong vùng chế độ thủy triều diễn ra phức tạp hơn, đặc biệt vào mùa mưa do lượng nước sông đổ ra biển lớn nên mực nước tại đây tăng lên cao. Chế độ sóng: Sóng biển đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong các quá trình động lực ven bờ, đặc biệt là vận chuyển trầm tích. Nói chung tại vùng biển nghiên cứu, chế độ sóng phù hợp hoàn toàn với chế độ gió. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tháng 1 là tháng đặc trưng cho gió mùa Đông Bắc, sóng tập trung chủ yếu vào hướng Đông Bắc (chiếm 86,69%).
Độ cao sóng trong gió mùa Đông Bắc khá lớn. Tính trung bình có khoảng 6% số trường hợp quan trắc được độ cao sóng từ 2m trở lên (cấp 5 trở lên). Tháng 7 là tháng đặc trưng cho mùa gió Tây Nam, trường sóng tập trung vào các hướng Tây và Tây Nam chiếm 44,11% và 36,41% tổng số trường hợp tương ứng. Độ cao sóng cũng nhỏ hơn so với gió mùa Đông Bắc.
Tháng 4 và tháng 10 là hai tháng đặc trưng cho thời kỳ chuyển tiếp giữa hai mùa gió nên có tần suất xuất hiện phân bố tương đối rộng theo tất cả các hướng. Chế độ mực nước: Chế độ mực nước ở đây được quyết định bởi chế độ thuỷ triều. Các quá trình thuỷ thạch động lực khác nhau có liên quan đến mực nước như nước dâng do bão, lũ. Tính chất thuỷ triều ở vùng nghiên cứu thuộc loại hỗn hợp triều, thiên về bán nhật triều.
Hầu hết số ngày trong tháng có hai lần nước lên và hai lần nước xuống với sự chênh lệch đáng kể của hai độ lớn triều trong ngày. Độ lớn triều trong kỳ nước cường có thể đạt tới trên dưới 3m. Kỳ nước cường thường xảy ra vào thời kỳ trăng non và trăng tròn (tức là vào đầu tháng và giữa tháng âm lịch). Đặc điểm địa hình - địa mạo Địa hình: Vùng nghiên cứu có địa hình mang tính chất đồng bằng ven biển với các giồng cát chạy liên tục theo hình vòng cung và song song với bờ biển.
Càng về phía biển, các giồng cát này càng cao và càng lớn. Do sự chia cắt bởi các giồng cát và hệ thống trục lộ, kênh rạch chằng chịt nên địa hình khá phức tạp. Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cát, xu thế dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Nhìn chung, cao trình phổ biến từ 0,4-1,0 m, chiếm 66% diện tích đất tự nhiên.
Địa hình cao nhất (4m) gồm các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn (Cầu Ngang); Long Hữu (Duyên Hải). Địa hình thấp nhất (0,4m) tập trung tại các cánh đồng trũng xã Mỹ Hòa, Mỹ Long, Hiệp Mỹ (Cầu Ngang); Long Vĩnh (Duyên Hải), Trà Vinh. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Địa mạo: Trong vùng nghiên cứu, đặc điểm địa mạo dễ nhận thấy là đồng bằng châu thổ cao 0,5-4m, không bị ngập hoặc bị ngập nước cục bộ, ngập không thường xuyên do triều hoặc do lũ. Trên đồng bằng, xen kẽ các giồng cát là các dải đồng bằng thấp trũng với các lạch triều, các đoạn lạch triều, tuổi trẻ dần về phía biển.
Khoảng cách giữa 2 giồng cát 1,9-4,9km, trung bình 2,4km. Các dạng địa hình này về cơ bản đã ổn định, có tuổi Holocen giữa-muộn, tuy nhiên các dạng địa hình giồng cát lại đang chịu tác động mạnh mẽ từ chính con người. Đặc điểm địa chất 1.