CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn nhân lực y tế 1.1 Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi NNL là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của tổ chức [62]. NNL là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức. Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay NNL đó của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó [14].2 Nguồn nhân lực y tế NNL trong lĩnh vực CSSK, có thể được định nghĩa là các kiểu khác nhau của nhân viên lâm sàng và phi lâm sàng chịu trách nhiệm can thiệp sức khỏe cá nhân và cộng đồng.
NNL là yếu tố quan trọng nhất của đầu vào hệ thống sức khỏe, hiệu quả và những lợi ích mà hệ thống có thể cung cấp phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, kỹ năng và động lực của những cá nhân chịu trách nhiệm về cung cấp dịch vụ y tế [74]. Theo WHO (2006) định nghĩa nhân viên y tế là những người mà hoạt động của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe. Nhân viên y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sỹ, điều dưỡng, y tế công cộng, dược sỹ, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên khác: kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý [8] [80]. Theo định nghĩa của Bộ Y tế “Nhân viên y tế là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (kể cả công và tư, kể cả biên chế và 4 hợp đồng)”.
Việc phân loại các nhân viên y tế tại Việt Nam dựa trên các tiêu chí về giáo dục và đào tạo nghề, quy định về chuyên môn y tế và các hoạt động, nhiệm vụ liên quan trong công việc [10].2 Quản trị nguồn nhân lực Quản trị NNL là quá trình sáng tạo và sử dụng tổng thể các công cụ, phương tiện, phương pháp và giải pháp khai thác hợp lý và có hiệu quả nhất năng lực, sở trường của người lao động nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu của tổ chức và từng người lao động trong quản trị. Cũng có thể hiểu quản trị NNL là quản trị con người trong mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của tổ chức và làm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người lao động. Theo WHO, “quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất. Mục đích chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị trí phù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc, và được hỗ trợ chuyên môn phù hợp với mức chi phí hợp lý”.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của nguồn NLYT Hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực y tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan.
Yếu tố khách quan như: Điều kiện về tự nhiên, những vùng khó khăn về giao thông, vị trí địa lý không thuận lợi vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; điều kiện kinh tế - xã hội như dân số, trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, trình độ dân trí, kiến thức, hiểu biết của người dân về chăm sóc sức khỏe cho bản thân,… có tác động không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực y tế. Yếu tố chủ quan đóng vai trò quan trọng hơn. Đó là, sự phát triển của hệ thống y tế tại địa phương; chất lượng nguồn nhân lực y tế, bao gồm việc đào tạo, đào tạo liên tục, bố trí sắp xếp công việc phù hợp, cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý; môi trường làm việc thuận lợi, an toàn, đảm bảo đầy đủ các trang thiết bị hỗ trợ để phát huy hết Thang Long University Library 5 năng lực trong công tác khám, chữa bệnh; chế độ đãi ngộ đặc biệt; chính sách thu hút thỏa đáng đối với cán bộ y tế [32]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Danh Song năm 2017 cũng cho thấy Yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực: chính sách chế độ đãi ngộ (71,8%), cơ sở hạ tầng và thiết bị làm việc (53,7%), môi trường làm việc và sắp xếp bố trí nhân lực (43,3%), cơ hội đào tạo và thăng tiến (17,7%) [28].2 Tình hình nguồn nhân lực y tế 1.1 Tình hình nguồn nhân lực y tế thế giới Nhân lực y tế toàn cầu, theo mật độ: Phần lớn các nghiên cứu ở trên thế giới đều được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang.
Châu Phi trong những năm gầy đây đã cho thấy tổng số CBYT là 1.000 người chiếm tỉ lệ: 2,3 CBYT/10.000 dân, vùng lãnh thổ phía đông Địa Trung Hải có tổng số CBYT là 2.000 người chiếm tỉ lệ: 4,0 CBYT/10.000 dân; ở các nước Châu Á thuộc phía Đông – Nam có tổng số CBYT là 7.000 cán bộ, chiếm tỉ lệ 4,3 CBYT/10.000 dân; phía Tây Thái Bình Dương có tổng số CBYT là 10.000 cán bộ, chiếm tỉ lệ 5,8 CBYT/10.000 dân; châu Âu có tổng số CBYT là 16.000 cán bộ, chiếm tỉ lệ 18,9 CBYT/10.000 dân; châu Mỹ có tổng số CBYT là 21.000 cán bộ, chiếm tỉ lệ 24,8 CBYT/10. Tổ chức y tế thế giới đưa ra tiêu chí là 2,5 CBYT/10.000 dân, dưới mức này sẽ không đảm bảo bao phủ 80% dịch vụ CSSK. Do vậy toàn cầu thiếu 4 triệu bác sỹ, y tá, nữ hộ sinh; 57 quốc gia thiếu 2,4 triệu bác sỹ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, trong đó có 36/37 nước thuộc vùng dưới sa mạc Sahara - Châu Phi [35].2 Tình hình nhân lực ngành Y tại Việt Nam Trong những năm gần đây số lượng CBYT của Việt nam có xu hướng tăng nhưng tốc độ tăng chậm. Nhân lực y tế tuy đã được cải thiện, nhưng tình trạng thiếu hụt NLYT vẫn đang tồn tại ở nhiều khu vực và lĩnh vực hoạt động của ngành y tế.
Theo các báo cáo của Bộ Y tế, năm 2012 Việt nam có 407.148 CBYT thì đến năm 2016 mới có 471. Số lượng nhân viên y tế/10.000 dân tăng dần theo các năm: Số y bác sỹ cho 10. trong đó số bác sỹ 6 trên 10.000 dân là 8,6 người (79. Số dược sỹ trên 10.000 dân đạt 2,96 người (27.
Số điều dưỡng cho 10. Số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học ngành y, dược năm 2016 là 13.870, tốt nghiệp sau đại học là 4. Đào tạo cán bộ y tế đại phương năm 2016 với tổng số học sinh hiện có là 57. Một số chỉ số nhân lực Việt nam và khu vực Đông Nam Á Số bác sỹ Số ĐD, HS, Tỷ số ĐD, Số DS trung Vùng, quốc gia trên 1 vạn KTV trên 1 HS, KTV cấp trở lên trên dân vạn dân trên 1BS 1 vạn dân Trung bình vùng 6,1 13,9 2,9 4,8 Đông Nam Á Bruney 15,1 49,6 4,2 2,1 Cam-pu-chia 2,9 8,8 3,8 1,4 In-đô-nê-xia 3,5 20,9 7,4 2,4 Lào 3,3 10,3 3,9 1,2 Ma-lai-xia 9,9 27,9 3,2 2,7 Myanma 5,4 8,5 2,0 1 Phi lip Pin 11,9 60,6 5,5 7,1 Thái Lan 3,9 15,8 5,4 2,2 Việt Nam 7,8 10,8 1,78 4,2 Nguồn: Hệ thống thông tin, thống kê WHOSIS năm 2014[79] Qua các báo cáo, thống kê của BYT cho thấy ở địa phương (gồm tuyến tỉnh, huyện, xã) có tỉ lệ CBYT lớn nhất đến 86,1%, tuyến Trung ương chiếm 13,9% tổng số CBYT trong cả nước [6].
Số lượng CBYT tập trung nhiều ở tuyến trung ương, tỉnh, chủ yếu ở khu vực thành thị. Tỉ lệ CBYT ở thành thị chiếm 51,3% tổng số CBYT (15% ở trung ương và 37% ở tuyến tỉnh), trong khi dân số thành thị chỉ chiếm 28,1% dân số cả nước (mặc dù CBYT ở thành thị không chỉ phục vụ cho dân sống ở thành phố). CBYT tuyến huyện chiếm gần 28% và tuyến xã chiếm ít hơn, 21% tổng số CBYT. Sự phân bố bất cập Thang Long University Library 7 thể hiện rõ nhất ở nhóm nhân lực y tế trình độ cao, nhất là bác sỹ với tỉ lệ 60% ở thành thị (20% ở trung ương và 40% ở tuyến tỉnh) và dược sỹ đại học với tỉ lệ 84% ở thành thị (45% ở trung ương và 39% ở tuyến tỉnh).
Hơn một nửa số điều dưỡng (57%) tập trung ở thành thị. Các cán bộ khác không thuộc chuyên môn y tế có trình độ văn hóa cao cũng phân bổ rất không đồng đều với 73% đại học và 64% cao đẳng, trung cấp ở thành thị. Chỉ có y sỹ và nữ hộ sinh được phân bổ tương đối hợp lý giữa thành thị và nông thôn, với tỉ lệ ở thành thị tương ứng là 18% và 26% [7]. Theo nghiên cứu của Trần Bá Kiên năm 2015.
Tính đến cuối năm 2012 số lượng nhân lực dược đang công tác tại các BVĐK tuyến tỉnh trong cả nước là 2081 người. Trong đó, dược sĩ có trình độ từ đại học trở lên chiếm tỉ lệ 19,6%, dược trung cấp chiếm tỉ lệ 71,3% và dược tá chiếm tỉ lệ 9,1%. Trung bình mỗi BVĐK tuyến tỉnh trong cả nước có 6,5DS/BV, trong đó nhiều nhất là khu vực Đông Nam Bộ với 8,8 DS/BV, thấp nhất là khu vực Tây Nguyên với 3,6 DS/BV; BV ở các thành phố lớn có nhiều DS hơn (10,6 DS/BV) ở các tỉnh còn lại (6,1DS/BV). Tính năm 2012 cả nước có 6602 cán bộ dược đang công tác tại BVĐK tuyến huyện.
Tuy nhiên số DS có trình độ đại học trở lên chiếm tỉ lệ thấp15,3%, dược trung cấp chiếm tỉ lệ 75,6% và dược tá chiếm tỉ lệ 9,1%. Mặt khác có sự cân đối về cơ cấu nhân lực dược giữa các khu vực thành thị và nông thôn và ngay trong một tỉnh cũng có sự mất cân đối. Trung bình cả nước chỉ có 1,5 DS/BV, nhiều nhất là khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long với 2,1DS/BV, thấp nhất là khu vực Tây Nguyên chỉ có 0,8DS/BV. Có sự thiếu hụt DS ở các BVĐK tuyến huyện.