MỞ ĐẦU Giới thiệu khái quát về lý do, tầm quan trọng và cấp thiết của đề tài, cũng như đề cập đế nội dung nghiên cứu của đề tài. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này đề cập các định nghĩa, cơ sở lý thuyết về sự hài lòng công việc, cũng như các nhân tố ảnh hướng đến sự hài lòng công việc. Dựa vào lý huyết để đưa ra mô hình nghiên cứu. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương này giới thiệu về ngân hàng VCB chi nhánh Vũng Tàu, cũng như thực trạng tại đây.
Trình bày phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu dựa trên nghiên cứu định lượng. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chương 4 trình bày chi tiết kết quả phân tích định lượng dựa vào khảo sát các bộ nhân viên tại ngân hàng VCB chi nhánh Vũng Tàu. Trên cơ sở kết quả đó, phân tích định tính được tiến hành thông qua phỏng vấn để đi sâu hơn trong việc thảo luận và đưa ra lý do, giải pháp, chính sách phù hợp nhằm nhân cao sự hài lòng công việc của nhân viên ngân hàng VCB chi nhánh Vũng Tàu. CHƯƠNG 5: HÀM Ý QUẢN TRỊ, KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 10 Chương 5 dựa trên kết quả chương 4 để đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng công việc của nhân viên thông qua những hàm ý kinh doanh và ý kiến góp ý từ phỏng vấn những nhân viên tại ngân hàng Vietcombank.
Chương này cũng trình bày kết luận dựa vào phương pháp nghiên cứu hỗn hợp và đưa ra kiến nghị dựa trên việc phỏng vấn chuyên sâu các đại diện tại ngân hàng Vietcombank chi nhánh Vũng Tàu cũng như dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trong nước và quốc tế trước đây, nhằm nâng cao sự hài lòng công việc của nhân viên, cũng như đưa ra phương hướng, chiến lược để phát triển ngân hàng ổn định hơn trong tương lai tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - chi nhánh Vũng Tàu. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số khái niệm liên quan 2. Khái niệm về sự hài lòng công việc Sự hài lòng được định nghĩa là việc đáp ứng nhu cầu hay mong muốn nào đó.
Từ đó, sự hài lòng công việc được định nghĩ là khi nhân viên được đáp ứng nhu cầu hay mong muốn của họ khi làm việc, theo từ điển Oxford Advanced learners’ Dictionary. Sự hài lòng công việc là trạng thái diễn ra khi con người có được sự thỏa mãn nhờ so sánh kết quả họ đạt được với những gì họ mong muốn, kỳ vọng và xứng đáng đạt được (Oshagbemi, 2000) Sự hài lòng công việc là tổng hợp giữa sự hài lòng về mặt tâm lý, sinh lý và môi trường làm việc, khiến cho một người cảm thấy thỏa mãn về công việc của họ (Hoppock, 1935). Nói một cách khác, sự hài lòng trong công việc chịu tác động khá lớn từ các yếu tố không những bên ngoài, mà còn yếu tố bên trong cảm xúc của người đó. Nghiên cứu của Weiss (1967) lại đưa ra định nghĩa về sự hài lòng trong công việc một cách đơn giản, đó chính là thái độ của người làm đối với công việc của mình thông qua hành vi, cảm nhận và niềm tin của người lao động đối với công ty mình làm việc.
Sự hài lòng trong công việc là sự hài lòng của các thành phần như bản chất công việc, cơ hội đào tạo thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương thưởng và các chế độ đãi ngộ, theo Kreitner và Kinick (2007). Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng trong công việc, nhưng trong nghiên cứu này, tác giả định nghĩa đơn giản sự hài lòng trong công việc là sự thoải mái, dễ chịu của người lao động đối với công việc và môi trường làm việc của mình về mặt cảm xúc, suy nghĩ và hành động. Khái niệm về Nhân viên Theo định nghĩa ở từ điển Merriam-Webster (1828), nhân viên là người làm việc để nhận được tiền lương, tiền công và luôn ở vị trí dưới cấp điều hành. Còn theo IRS - Sở Thuế Vụ Hoa Kỳ - là cơ quan nhà nước Hoa Kỳ chịu trách nhiệm thu thuế và thực thi pháp luật về thuế, bất cứ ai làm việc cho một tổ chức đều là nhân viên trong trường hợp 12 tổ chức đó có thể kiểm soát những việc họ thực hiện và cách thức họ thực hiện công việc đó.
Ở Việt Nam, tại điều 3 Bộ luật Lao động định nghĩa người lao động là “người có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Lý thuyết về sự hài lòng công việc Có rất nhiều lý thuyết liên quan đến sự hài lòng trong công việc, được diễn giải và giải thích về điều gì cũng như bằng cách nào khiến người ta cảm thấy hài lòng với công việc của mình. Sự nghiệp của một người không phải chỉ đơn giản là kiếm sống, nhưng vì sự thật là trung bình một người lao động dành hơn một phần ba thời gian trong ngày để làm việc, chính vì vậy, sự hài lòng trong công việc gắn liền với hạnh phúc của mỗi người. Một điều rõ ràng rằng con người có xu hướng thành công hơn và cố gắng hơn trong công việc mà họ đã chọn nếu họ đạt được một mức độ hài lòng công việc cao.
Dưới đây là một số lý thuyết phổ biến liên quan đến sự hài lòng công việc, cũng như có ảnh hưởng mật thiết đến đề tài đang nghiên cứu. Học thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Khi nói đến sự hài lòng, đáp ứng nhu cầu của con người, lý thuyết về nhu cầu cấp bậc của Maslow được xem là nền tảng căn bản nhất, diễn đạt nhu cầu của con người theo từng thang bậc mà ông đã nghiên cứu. Lý thuyết của con người chia thành 5 cấp bậc, từ cấp bậc thấp nhất thể hiện nhu cầu tất yếu phải có, đến bậc cao nhất là bậc năm. Cứ mỗi một cấp bậc, khi nhu cầu thể hiện ở cấp bậc đó được thỏa mãn, cấp bậc cao hơn sẽ trở nên quan trọng với người đó.
Chính vì vậy, con người sẵn sàng hành động theo cấp bậc nhu cầu tăng dần.1: Mô hình tháp nhu cầu Maslow (Nguồn: Organizational Behavior, Robbins, Stephen P. 2002) Nhu cầu sinh lý: bao gồm những nhu cầu cơ bản nhất của con người để tồn tài như lương thực, nước, không khí… điều này cho thấy con người ai cũng cần một mức lương, sự trả công đủ để đáp ứng nhu cầu này, giúp họ đảm bảo cuộc sống, nuôi được bản thân. Trong ngân hàng, nhu cầu này được đáp ứng cho nhân viên thông qua điều kiện làm việc và chế độ lương thưởng phúc lợi đủ để nhân viên duy trì cuộc sống của mình. Nhu cầu an toàn: là nhu cầu mong muốn được bảo vệ an toàn diện, hay nói cách khác, là nhu cầu được đảm bảo an toàn cho cả về thể chất và tinh thần, không có bất cứ mối đe dọa nào xảy ra, không có bạo lực và mất trật tự.
Một môi trường làm việc an toàn, đảm bảo sức khỏe là điều mà mọi người lao động đều mong muốn. Với một môi trường làm việc như ngân hàng thì nhu cầu an toàn cho nhân viên lại quan trọng hơn cả, vì đây là nơi giao dịch tiền và tài sản với giá trị khá lớn; người nhân viên làm trong ngân hàng cần được đảm bảo một sự an toàn nhất định cho bản thân, để yên tâm công tác. Nhu cầu xã hội: bao gồm nhu cầu được giao lưu, được thể hiện tình cảm của bản thân và chấp nhận tình cảm, nhu cầu được chia sẻ với bạn bè, đồng nghiệp, được mọi người quý mến, được tham gia các hoạt động sinh hoạt tập thể với mọi người. Để đáp ứng nhu cầu này cho nhân viên, ngân hàng cần phải tạo điều kiện cho người lao động 14 được giao lưu, sinh hoạt tập thể ngoài giờ, đi du lịch công ty hàng năm và nhiều hoạt động ngoại khóa khác để tăng tính đoàn kết, giao lưu, chia sẻ của nhân viên trong ngân hàng.
Chính vì thế, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp cần được chú trọng để đáp ứng nhu cầu xã hội của nhân viên. Nhu cầu được tôn trọng: đây là một trong những bậc nhu cầu cao nhất của Maslow. Khi ba nhu cầu cơ bản nhất của con người đã được đáp ứng, con người thường có xu hướng muốn được người khác tôn trọng mình hơn. Nói cách khác, ai cũng muốn được người khác tôn trọng, thừa nhận vị trí của mình trong công ty và cả trong xã hội.
Ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu này cho nhân viên bằng cách động viên, khen ngợi khi nhân viên có thành tích tốt trước toàn thể mọi người, ghi nhận thành tích, vinh danh tại các buổi họp, hội nghị, các buổi sơ kết tổng kết kết quả kinh doanh cuối quý hoặc cuối năm. Sự công nhận của cấp trên về các đóng góp cho tổ chức là một trong những khía cạnh liên quan đến mối quan hệ với cấp trên; là thang đo cần được cân nhắc khi nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc. Nhu cầu tự thể hiện: Maslow xem đay là cấp bậc cao nhất của tháp nhu cầu - là nhu cầu được phát triển, tự khẳng định mình. Để đáp ứng nhu cầu này, họ mong muốn làm các công việc có tính thách thức, đòi hỏi bản thân phải nỗ lực để đạt được mục tiêu, được tự chủ trong công việc.
Tiềm năng, khả năng của con người được phát huy một cách tối đa, hoàn thành một mục tiêu nào đó được công ty đề ra. Công ty - ngân hàng cần tạo cơ hội cho nhân viên mình được phát triển, thăng tiến, được nhận những công việc mang tính thách thức cao, đặc biệt đối với những nhân viên trẻ, muốn thử sức và không ngại khó khăn, quan trọng là học hỏi và có thể kinh nghiệm làm việc. Chính vì vậy, cơ hội thăng tiến là nhân tố quan trọng ảnh hưởng Năm cấp bậc nhu cầu này của Maslow mặc dù không có nhiều bằng chứng để chứng minh tại thời điểm đó, nhưng học thuyết này đã được chứng minh, công nhận và được áp dụng ở rất nhiều nghiên cứu sau này (Robins et al, 2002). Dựa trên lý thuyết của Maslow, sự hài lòng công việc được nghiên cứu qua rất nhiều đề tài của Kuhlen (1963), Worf (1970), Conrad và cộng sự (1985) trên khía cạnh sự hài lòng công việc xảy ra khi con người được đáp ứng nhu cầu họ mong muốn.