Chương 1 đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương 2 sẽ giới thiệu về các lý thuyết có liên quan làm cơ sở cho thiết kể nghiên cứu. Trong nghiên cứu này sẽ giới thiệu các khái niệm có liên quan đen sự gắn bó trong công việc, căn cứ từ các học thuyết về động viên, sự gắn bó công việc. Dựa trên các cơ sở lý thuyết nghiên cứu liên quan như: Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow, thuyết công bằng của Adams, thuyết thành tựu của McClelland.
Trong chương này cũng sẽ giới thiệu các nguyên nhân dẫn đến sự gắn bó trong công việc của kỹ sư xây dựng dựa trên một số nghiên cứu có liên quan, kết thúc là việc xây dựng thang đo dùng để đo lường sự gắn bó trong công việc của kỹ sư xây dựng. Các định nghĩa của sự gắn bó: Sự gắn bó có thể được hiểu là mối quan hệ bền vững giữa sự gia nhập của một cá nhân với sự tham gia vào một tổ chức. Đặc biệt, sự gắn bó là đặc tính của 3 nhân tố (James L.Price - Handbook of organizational measurement -p.337): + Niềm tin vững chắc vào mục tiêu và giá trị của tổ chức; + Sự sẵn lòng áp dụng các nỗ lực vào lợi ích của tập thể; + Sự mong muốn mãnh liệt được tổ chức là thành viên của tổ chức. Khi nhân viên biểu hiện mức độ gắn bó cao với tổ chức thì tổ chức có khả năng hướng tới nhiệm vụ và nâng cao sự phù hợp các mục đích của mình (Meyre, 1989).
Theo Trần Kim Dung (2011), cho rằng ý thức gắn bó tổ chức của nhân viên thể hiện thông qua 3 tiêu thức: + Nỗ lực, cố gắng của nhân viên đối với công việc: Nhân viên trong tổ chức nỗ lực hết mình nâng cao kỹ năng để có thể cống hiến nhiều hơn cho công việc; và sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân khi cần thiết để \giúp đỡ nhóm, tổ chức làm việc thành công. + Niềm tự hào, yêu mến công ty: Nhân viên yêu mến, tự hào về công ty; xem tố chức là nơi tốt nhất để làm việc. 5 + Trung thành với tô chức: Nhân viên có ý định ở lại dài lâu cùng tô chức; sẽ ở lạ cùng tổ chức mặc dù có nơi khác có lời đề nghị lương bổng tương đối hấp dẫn hơn. Man Power (2002), cho rằng lòng trung thành bao gồm: sẵn lòng giới thiệu công ty của mình như một nơi làm việc tốt; sẵn lòng giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ của công ty; Có ý định gắn bó lâu dài với công ty.
Một ngiên cứu của tổ chức NEHRA (www.com) về việc cấu trúc lại tổ chức sau khi sa thải nhân viên đã chỉ ra rằng khi nhân viên gắn bó cao thì họ sẽ: + Giảm xu hướng rời bỏ tổ chức; + ít bất mãn về công việc; + ít căng thẳng trong công việc; + Hiệu suất công việc cao hơn; + ứng xử đúng quy định hơn; + Thể hiện tư cách là thành viên của tổ chức. •• Một cách khái quát, sự gắn bó là sự trung thành đối với một tổ chức. Sự gắn bó với tổ chức thể hiện mối quan hệ tích cực và nhanh chóng từ sự tham gia của người lao động vào công việc đen sự từ bỏ công việc. Các lý thuyết về sự gắn bó trong công việc: 2.1 Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Thuyết Maslow cho rằng con người cố gắng thỏa mãn nhu cầu mang tính cơ bản hơn (nhu cầu sinh lý) trước khi điều khiển hành vi dẫn đến việc thỏa mãn nhu cầu cao hơn (nhu cầu tự hoàn thiện mình).
Theo Maslow, một nhu cầu khi được thỏa mãn rồi thì ngừng thúc đẩy. Khi một ai đó quyết định mình đã kiếm đủ tiền từ việc cống hiến cho tổ chức, tiền sẽ mất đi sức mạnh thúc đẩy. 6 Nhu câu thành tựu của McClelland được thê hiện trong nghiên cứu này dưới dạng đặc điểm công việc. Công việc cần được thiết kế sao cho nhân viên đạt được “thành tựu” họ mong muốn.
Còn nhu cầu liên minh được thể hiện ở mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp. Cuối cùng, nhu cầu quyền lực được thể hiện ở cơ hội được thăng tiến. Thuyết công bằng của Adam (1963) Thuyết công bằng của J.Stacey Adams cho rằng nhân viên có mong muốn nhận được những phần thưởng tương xứng với những đóng góp hay công sức mà họ đã bỏ ra. Nếu một cá nhân nhận thấy bản thân được trả lương dưới mức đáng được hưởng thì anh ta sẽ giảm nỗ lực của bản thân xuống để duy trì “sự cân bằng”.
Nếu anh ta nghĩ rằng đang được trả lương cao, anh ta sẽ cố gắng làm việc chăm chỉ hơn. Tính công bằng trong công việc còn được xem xét qua tương quan giữa tỷ lệ đóng góp và những kết quả nhận được của một nhân viên với những kỹ sư khác có hợp lý hay không. Trong trường hợp không cảm nhận được tính hợp lý, họ có thể tự đặt ra yêu cầu tăng hay giảm nỗ lực của bản thân để duy trì “sự cân bằng”. Vì vậy, sự ghi nhận công việc kịp thời từ phí các nhà quản lý hoặc giám sát là nhân tố động viên hàng đầu đối với nhân viên.
Có thể sử dụng các công cụ quản lý hiệu quả công việc được thiết kế nhằm thu thập phản hồi để đánh giá và so sánh hiệu quả công việc của nhân viên , giúp nhận biết những hành vi nào góp phần tăng hiệu quả công việc và giúp tổ chức xây dựng được tiêu chuẩn cho những người giỏi nhất. Tuy nhiên, việc giám sát và đánh giá các kỹ sư một cách hiệu quả cũng cần phù hợp với từng trường hợp cụ thể của nhân viên. Khám phá của các chuyên gia cho thấy : “Không cần thiết phải quản lý chặt chẽ đối với những cá nhân xuất sắc. Họ sẽ tự tạo động lực và đạt được kết quả tốt nhất.” Lý thuyết này cũng có thể được xem xét ở góc độ đề tài của luận văn này.
Một kỳ sư không thể có được sự gắn bó nếu họ nhận ra rằng mình bị đối xử không công bằng từ vấri đề lương bổng, cơ hội đào tạo thăng tiến để phát triển đến sự hỗ trợ từ cấp trên. Từ các học thuyết trên, ta thấy rằng các nhà nghiên cứu khác nhau có cái nhìn khác nhau về các nhân tố mang lại sự gắn bó với công việc. Tuy nhiên, qua các học thuyết trên, ta thấy được được điểm chung của các tác giả từ các học thuyết này. Tất cả họ đều cho rằng để mang lại sự gắn bó với công việc thì nhà quản lý cần phải mang lại sự gắn bó một nhu cầu 8 câu hỏi gửi qua email là 54%, 425 người trả lời.
Sử dụng thang đo Likert, nghiên cứu này bao gồm 40 câu hỏi chia thành hai phần: Phần 1 thông tin của người trả lời và phần 2 tập trung vào trả lời nội dung các yếu tố tác động đến sự duy trì của nhân viên, 5 tác động đến duy trì nhân viên, cụ thể là: Phát triển nghề nghiệp, bồi thường, công nhận, tích cực tham gia và quản lý nhân viên. Các kết quả của bảng câu hỏi khảo sát cho thấy phần lớn những người được hỏi đồng ý có các yếu tố tác động đến duy trì nhân viên cụ thể là: Phát triển nghề nghiệp, tiền công, công nhận, tích cực tham gia và quản lý nhân viên. Nghiên cứu của Phan Thị Minh Lý, (2011) Nghiên cứu của Phan Thị Minh Lý, (2011) đưa ra mô hình nghiên cứu phân tích tác động của các nhân tố đến sự hài lòng về công việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại ở Thừa Thiên Huế, có 6 biến độc lập như tính chất & áp lực công việc, thu nhập & các chế độ đãi ngộ, quan hệ và đối xử, triển vọng phát triển, điều kiện làm việc, 1 biến phụ thuộc là sự hài lòng công việc của nhân viên được trình bày như Hình 2.2 Tính chất & áp lực công việc Thu nhập & các chế độ đãi ngộ _____ _______ .____ Sự hài lòng công việc của nhân Quan hệ và đối xử viên Điều kiện làm việc Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu của Phan Thị Minh Lý, (2011) 10 2. Nghiên cứu của Châu Tuấn Anh (2010) Nghiên cứu cùa Châu Tuấn Anh, (2010) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn bó với công ty của cán bộ quản lý xây dựng làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã đưa ra mô hình gồm 6 nhân tố: chính sách quản lý, hỗ trợ từ cấp trên, quan hệ đồng nghiệp, lương và đãi ngộ, phân quyền từ cấp trên và phát triển bản thân.3 Mô hình nghiên cứu của Châu Tuấn Anh (2010) 2.4 Mô hình nghiên cứu của Đỗ Phú Trần Tình và cộng sự, (2012) Mô hình nghiên cứu của Đỗ Phú Trần Tình và cộng sự, (2012) đưa ra mô hình nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn bó lâu dài của nhân viên trẻ với doanh nghiệp, có 8 biến độc lập như thu nhập, mục tiêu nghề nghiệp, điều kiện làm việc, quan hệ với đồng nghiệp, quan hệ với lãnh đạo, mức độ trao quyền, khen thưởng & phúc lợi, cơ hội thăng tiến.
1 biến phụ thuộc là khả năng duy trì của nguồn nhân lực trẻ được trình bày như Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Đỗ Phú Trần Tình và cộng sự, (2012) So sánh các kết quả nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu về mức độ thỏa mãn, sự gắn bó, lòng trung thành của nhân viên trong công việc của các tác giả cho thấy ở mỗi lĩnh vực khác nhau thì mức độ thỏa mãn, sự gắn bó, lòng trung thành của nhân viên khác nhau. Dù vậy, mức độ thỏa mãn, sự gắn bó, lòng trung thành của nhân viên đều gắn liền với một số yếu tố có quan hệ đến việc thực hiện công việc của họ. Khái niệm và các giả thuyết nghiên cứu: Theo Meyer và Allen (1991) đã xem xét sự gắn bó và chia thành 3 loại: loại gắn bó tình cảm, loại gắn bó vì quyền lợi cá nhân và loại gắn bó đạo đức và cũng chỉ ra rằng mối quan hệ khắng khít giữa các đồng nghiệp sẽ ảnh hưởng đến sự gắn bó tình cảm và gắn bó đạo đức. - Gắn bó tình cảm: người lao động gắn bó với tổ chức vì họ nhận thấy mục tiêu và giá trị của họ tương đồng với mục tiêu và giá trị của tổ chức.
12 - Tiên lương tương xứng với kêt quả làm việc. - Tiền lương, thu nhập được trả công bằng. Như vậy, giả thuyết được đưa ra là: Hf. Thu nhập và sự gắn bó có mối quan hệ đồng biến.