CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ THANH TRA XÂY DỰNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Khái quát chung về công tác thanh tra 1. Khái niệm thanh tra Thanh tra theo Đại từ điển tiếng Việt là điều tra, xem xét để làm rõ sự việc. Thanh tra cũng có nghĩa là chỉ người làm nhiệm vụ thanh tra.
Người làm nhiệm vụ thanh tra phải điều tra, xem xét để làm rõ vụ việc [4]. Về mặt pháp lý, theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010, thanh tra là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động thanh tra nhà nước. Thanh tra được hiểu là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét đánh giá của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Theo Luật Thanh tra năm 2010: [6] Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. 5 Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. Đặc điểm của thanh tra Công tác thanh tra có những đặc điểm cơ bản sau [10, Tr.7-14] Thứ nhất, thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu và phục vụ mục tiêu quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước và thanh tra có cái chung là sử dụng quyền lực nhà nước thực hiện sự tác động lên đối tượng bị quản lý. Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, hoạt động có tính hiệu quả của thanh tra sẽ ngăn chặn được nguy cơ biến dạng, tùy tiện, thiếu kỷ cương trong hoạt động quản lý nhà nước. Thứ hai, thanh tra luôn mang tính quyền lực nhà nước. Tính quyền lực của hoạt động thanh tra có mối liên hệ chặt chẽ với tính quyền uy - phục tùng của quản lý nhà nước.
Là một chức năng của quản lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực nhà nước của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý. Khi nhấn mạnh tính quyền lực của tổ chức thanh tra. Lê nin nói: “Thanh tra thiếu quyền lực là thanh tra suông”. Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra thể hiện ở chỗ các cơ quan thanh tra đều có quyền hạn được xác định và khả năng thực hiện quyền hạn đó.
Cụ thể: + Ra quyết định bắt buộc thi hành đối với các đối tượng bị thanh tra trong việc sửa chữa những thiếu sót đã bị thanh tra phát hiện. + Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra, yêu cầu truy cứu trách nhiệm đối với những người có lỗi gây ra những vi phạm được phát hiện, kể cả việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để truy tố trước pháp luật. 6 + Trong một số trường hợp trực tiếp áp dụng các biện pháp xử lý mang tính cưỡng chế nhà nước. Thứ ba, thanh tra có tính khách quan và độc lập tương đối.
Tính khách quan và độc lập tương đối trong quá trình thanh tra được thể hiện trên các điểm sau: + Tuân theo pháp luật. + Tự mình tổ chức các cuộc thanh tra trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đã được pháp luật quy định. + Khách quan trong quá trình thanh tra. Mặc dù bản thân hoạt động thanh tra thông qua con người, mang yếu tố chủ quan, nhưng yêu cầu đặt ra đối với hoạt động thanh tra là luôn luôn tôn trọng sự thật khách quan.
+ Ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quyết định của pháp luật về kết quả của hoạt động thanh tra, chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra của mình. Tính độc lập tương đối của các cơ quan thanh tra thể hiện ở việc các cơ quan thanh tra thuộc hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, chịu sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước về chương trình, kế hoạch thanh tra, về biên chế, tổ chức nhân sự, cơ sở vật chất và phương tiện hoạt động. Người đứng đầu các cơ quan thanh tra do thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp bổ nhiệm, miễn nhiệm. Mặt khác, các cơ quan thanh tra cũng chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan thanh tra cấp trên về tổ chức, nhiệm vụ và về nghiệp vụ.
Vị trí, vai trò của thanh tra 1. Vị trí của thanh tra [10, Tr.15] Thanh tra là một bộ phận hợp thành của chu trình quản lý nhà nước. Ở đây, thanh tra là một bộ phận không thể tách rời của công tác quản lý. Ở nước ta, theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, các cơ quan nhà nước có sự phân công rành mạch và phối hợp thực hiện giữa ba quyền: lập pháp (tập trung vào Quốc 7 hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất), hành pháp (giao cho Chính phủ và chính quyền địa phương), tư pháp (giao cho Tòa án, Viện kiểm sát).
Do đó, thanh tra có vị trí nằm trong hệ thống các cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Theo quy định hiện hành, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện có các cơ quan thanh tra tương ứng là Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra sở và Thanh tra huyện. Mỗi cơ quan thanh tra chịu sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của cơ quan hành chính cùng cấp về tổ chức, kế hoạch hoạt động, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan thanh tra cấp trên về chuyên môn nghiệp vụ và chương trình công tác. Trong đó, mối quan hệ với các cơ quan hành chính nhà nước là mối quan hệ mang tính chủ đạo.
Vai trò của thanh tra Vai trò của thanh tra thể hiện qua những đặc điểm sau [10, Tr.16-18] - Thanh tra là một trong những phương thức phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Cùng với các cơ chế kiểm tra, kiểm toán, điều tra, giám sát, công tác thanh tra góp phần phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm việc phát hiện các hành vi thiếu trách nhiệm, quan liêu, lãng phí, chống tham nhũng trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước. Mặt khác, qua thanh tra, các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội của mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân cũng sẽ được phát hiện và xử lý. Việc phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật sẽ có tác dụng hạn chế, răn đe và do đó có tác dụng phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ tài sản nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.Việc thanh tra định kỳ thường xuyên hay đột xuất luôn tạo ra một số “sức ép” thường trực lên đối tượng thanh tra mà nhờ đó thanh tra đã làm hạn chế sự vi phạm pháp luật.
8 - Thanh tra góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, qua thực tiễn hoạt động của mình, các cơ quan thanh tra phát hiện những sơ hở trong cơ chế chính sách, pháp luật, hạn chế những hành vi tham nhũng, lãng phí, gian lận và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Qua đó, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, pháp luật, khắc phục kẽ hở của pháp luật, ngăn ngừa tận gốc mầm mống phát sinh hành vi vi phạm pháp luật. - Thanh tra góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, công tác thanh tra có vai trò quan trọng, là bộ phận hữu cơ của cơ quan quản lý nhà nước. Qua thanh tra giúp cho người lãnh đạo quản lý cấp trên thấy được những yếu kém, thiếu sót, những điểm chưa phù hợp, thiếu đồng bộ của đường lối, chủ trương, chính sách và của hệ thống pháp luật; đánh giá được năng lực, trách nhiệm điều hành, quản lý của người lãnh đạo quản lý cấp dưới, đánh giá một cách đúng đắn nơi nào, cá nhân nào làm tốt hơn để biểu dương, làm chưa tốt để uốn nắn.
Thanh tra còn giúp cho người cán bộ lãnh đạo quản lý cấp dưới nhìn thấy, biết được, phát hiện và chỉ cho mình thấy được những việc làm đúng, làm tốt để tiếp tục phát huy, việc làm sai, làm không đầy đủ, làm thiếu trách nhiệm để khắc phục sửa chữa nâng cao năng lực của mình. Chức năng, nhiệm vụ của thanh tra [10, Tr.18 – 20] Luật Thanh tra năm 2010 xác định hoạt động thanh tra có mục đích là nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục, phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.